☸Kinh Tạng Pali
Kinh TạngLuật TạngLuận TạngCông CụLịch SửPhá Tà Kiến
Kinh TạngLuật TạngLuận TạngCông CụLịch SửPhá Tà Kiến
☸ Kinh Tạng Pali

Tra cứu Tam Tạng Pali theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy Theravāda.

Tam Tạng

  • Kinh Tạng
  • Luật Tạng
  • Luận Tạng

Công Cụ

  • Từ Điển Pali
  • Tìm Kinh
  • Tu Tập Mỗi Ngày

Nguồn

  • SuttaCentral
  • Phá Tà Kiến

Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāya

Nội dung dựa trên Tam Tạng Pali · Bản dịch: HT. Thích Minh Châu · Dữ liệu: SuttaCentral (CC0)

Trang ChủKinh TạngCông CụTìm kiếm

Ngữ Tông

Kathāvatthu

219 chương

  • Phần Nhân Ngữ
  • Phần Nghiệp Đặng Kế
  • Phần Thanh Tịnh Tỷ Giáo
  • Phần Tỷ Giảo
  • Phần Tứ Chủng Tỷ
  • Phần Tướng Bình Đẳng
  • Ngữ Thanh Khiết
  • Cật Vấn Chế Định
  • Thú Hướng Cật Vấn
  • Y Chế Định Cật Vấn
  • Nghiệp Nhân Ngữ
  • Tầm Bá Thinh Ngữ
  • Dẫn Tâm Ngôn Ngữ
  • Thành Quả Ngữ
  • Bất Tử Cảnh Ngữ
  • Sắc Hữu Tri Cảnh Ngữ
  • Tùy Miên Vô Hữu Cảnh Ngữ
  • Trí Bất Tri Cảnh Ngữ
  • Quá Khứ Cảnh Ngữ
  • Vị Lai Cảnh Ngữ
  • Tầm Liên Quan Ngữ
  • Ngữ Tông 11.1
  • Quá Khứ Vị Lai Hiện Tại Ngữ
  • Diệt Ngữ
  • Sắc Đạo Ngữ
  • Ngữ Tông 11.5
  • Ngũ Thức Thiện Hỷ Ngữ
  • Ngũ Thức Kiết Phược Ngữ
  • Nhị Giới Tùy Tề Ngữ
  • Giới Phi Sở Hữu Tâm Ngữ
  • Thần Thông Lực Ngữ
  • Giới Phi Tùng Hành Tâm Ngữ
  • Nguyện Trì Nhân Ngữ
  • Biểu Tri Giới Ngữ
  • Vô Biểu Tri Phạm Giới Ngữ
  • Tam Chủng Tiềm Thùy Ngữ
  • Trí Ngữ
  • Trí Bất Tương Ưng Tâm Ngữ
  • Thử Khổ Ngữ
  • Định Ngữ
  • Mạng Tuyệt Ngữ
  • Pháp Trụ Ngữ
  • Vô Thường Ngữ
  • Thu Thúc Nghiệp Ngữ
  • Nghiệp Ngữ
  • Thinh Dị Thục Quả Ngữ
  • Lục Nhập Ngữ
  • Thất Lai Chí Thượng Ngữ
  • Lục Lai Nhứt Sanh Ngữ
  • Khổ Thú Ngữ
  • Thất Sanh Ngữ
  • Bát Kiếp Ngữ
  • Thiện Tâm Phản Chuyển Ngữ
  • Vô Gián Bất Hiệp Ngữ
  • Quyết Định Sở Nhứt Định Ngữ
  • Cái Ngữ
  • Hội Diện Ngữ
  • Nhập Thiền Thích Thành Cảnh Ngữ
  • Phi Cảnh Ái Ngữ
  • Liên Quan Luân Hồi Ngữ
  • Vô Ký Ngữ
  • Pháp Ái Vô Ký Ngữ
  • Kathā)
  • Ngữ Tông 15.4
  • Lục Nhập Sanh Ngữ
  • Vô Gián Duyên Ngữ
  • Thánh Sắc Ngữ
  • Bất Đồng Tùy Miên Ngữ
  • Cittavippayuttanti Kathā)
  • Bất Liên Quan Luân Hồi Ngữ
  • Tưởng Hưởng Ngữ Thứ Ba
  • Duyên Khởi Ngữ
  • Hổ Tương Duyên Ngữ
  • Kỳ Gian Ngữ
  • Sát-Na Kỳ Gian Điểm Điểm Ngữ
  • Lậu Ngữ
  • Lão Tử Ngữ
  • Tưởng Hưởng Ngữ
  • Tưởng Hưởng Ngữ Thứ Hai
  • Vô Tưởng Hữu Ngữ
  • Sắc Thành Dị Thục Quả Ngữ
  • Ngữ Tông 17.11
  • Nghiệp Tạo Chứa Ngữ
  • Chinh Lệ Ngữ
  • Phò Trì Ngữ
  • Lạc Phú Ngữ
  • Tập Đỉnh Tác Ý Ngữ
  • Sắc Thành Nhân Ngữ
  • Sắc Hữu Nhân Ngữ
  • Sắc Thành Thiện, Bất Thiện Ngữ
  • Ngữ Tông 18.1
  • La Hán Khí Phước Ngữ
  • La Hán Vô Phi Thời Tử Ngữ
  • Ngữ Tông 18.4
  • Quyền Liên Quan Ngữ
  • Trừ Ra Thánh Đạo Ngữ
  • Ngữ Tông 18.7
  • Ngữ Tông 18.8
  • Ngữ Tông 18.9
  • Ngữ Tông 19.1
  • Ngữ Tông 19.2
  • Bố Thí Thanh Tịnh Ngữ
  • Thế Giới Nhân Loại Ngữ
  • Thuyết Pháp Ngữ
  • Bi Ngữ
  • Khí Xuất Ngữ
  • Nhứt Đạo Ngữ
  • Cật Vấn Thông
  • Thích Hợp Ngữ
  • Niệm Xứ Ngữ
  • Cật Vấn Thân Tộc
  • Phần Linh Tinh
  • Hoại Lìa Ngữ (Ỷ Hư Ngữ)
  • Phạm Hạnh Ngữ
  • Hạn Định Ngữ
  • Nguyên Trừ Ngữ
  • Chư Tài Vật Ngữ
  • Quá Khứ Uẩn Ngữ
  • Thiền Đà Ngữ
  • Thiền Hữu Gián Ngữ
  • Nhập Thiền Thính Thinh Ngữ
  • Nhãn Kiến Sắc Ngữ
  • Trừ Phiền Não Ngữ
  • Tiêu Diệt Ngữ
  • Phổ Thông Quả Ngữ
  • Ân Đức Ngữ
  • Chân Ngữ
  • Thiện Ngữ
  • Cực Thậm Cố Nhiên Ngữ
  • Quyền Ngữ
  • Vô Cố Quyết Ngữ
  • Trí Ngữ
  • Diêm Vương Ngữ
  • Bàng Sanh Ngữ
  • Đạo Ngữ
  • Trí Ngữ
  • Tông Giáo Ngữ
  • Bất Nghiêm Tịnh Ngữ
  • Triền Ngữ
  • Thần Thông Ngữ
  • Phật Ngữ
  • Chư Phương Ngữ
  • Pháp Ngữ
  • Nghiệp Ngữ
  • Tịch Diệt Ngữ
  • Hữu Vô Ngữ
  • Tùng Tiền Thứ Đệ Ngữ
  • Từ Cú Ngữ
  • Diệt Ngữ
  • Tha Dẫn Ngữ
  • Bất Tri Ngữ
  • Hoài Nghi Ngữ
  • Tha Tiếp Dẫn Ngữ
  • Ngôn Chân Biết Ngữ
  • Khổ Thực Ngữ
  • Tâm Trụ Ngữ
  • Nhiệt Thấu Ngữ
  • Lực Ngữ
  • Thu Thúc Ngữ
  • Thánh Chúng Ngữ
  • Giải Thoát Ngữ
  • Giải Thoát Ngã Mạn Ngữ
  • Đệ Bát Ngữ
  • Đệ Bát Quyền Ngữ
  • Thiên Nhãn Ngữ
  • Thiên Nhĩ Ngữ
  • Tùy Nghiệp Hành Trí Ngữ
  • Vô Tưởng Ngữ
  • Liên Quan Nhứt Định Ngữ
  • Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Ngữ
  • Cư Sĩ Ứng Cúng Ngữ
  • Phát Sinh Ngữ
  • Phi Cảnh Lậu Ngữ
  • Tùng Hiệp Ngữ
  • Xả Tùng Hiệp Ngữ
  • Phật Do Giác Ngữ
  • Tướng Hảo Ngữ
  • Tùng Hiệp Ngữ Một Nữa
  • Vị Lai Trí Ngữ
  • Tuyệt Trừ Chư Triền Ngữ
  • Giải Thoát Ngữ
  • Vô Học Trí Ngữ
  • Huyễn Biến Ngữ
  • Nhứt Định Ngữ
  • Đạt Thông Ngữ
  • Tục Trí Ngữ
  • Tâm Cảnh Ngữ
  • Hiện Tại Trí Ngữ
  • Địa Chất Hữu Kiến Ngữ
  • Quả Trí Ngữ
  • Cố Nhiên Ngữ
  • Y Tương Sinh Ngữ
  • Đế Ngữ
  • Vô Sắc Ngữ
  • Nhập Diệt Ngữ
  • Hư Không Ngữ
  • Hư Không Hữu Kiến Ngữ
  • Ngữ Tông 8.1
  • Lão Tử Quả Ngữ
  • Thánh Nghiệp Quả Ngữ
  • Thân Nghiệp Hữu Kiến Ngữ
  • Yếu Hiệp Ngữ
  • Tương Ưng Ngữ
  • Sở Hữu Tâm Ngữ
  • Bố Thí Ngữ
  • Hưởng Dụng Thành Tựu Phước Ngữ
  • Tự Thử Thí Ngữ
  • Đại Địa Nghiệp Quả Ngữ
  • Ngữ Tông 9.1
  • Sắc Hành Động Ngữ
  • Mạng Quyền Ngữ
  • Lục Thú Hướng Ngữ
  • Trung Hữu Ngữ
  • Dục Lạc Ngữ
  • Dục Ngữ
  • Sắc Giới Ngữ
  • Vô Sắc Giới Ngữ
  • Sắc Giới Lục Xứ Ngữ
  • Vô Sắc Hữu Sắc Ngữ
Luận Tạng›Ngữ Tông›Hoài Nghi Ngữ

Hoài Nghi Ngữ

Dịch: Tịnh Sự (Santakicca Mahāthera)

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của La Hán không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu mà Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của La Hán không có thời chớ nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có và Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của họ cũng vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có và Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của Ngài cũng vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có, nhưng Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của Ngài không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có mà Hoài nghi, Hoài nghi yểm, Hoài nghi triền, Hoài nghi cái của họ vẫn không có chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Hoài nghi điều học, Hoài nghi đời vị lai, Hoài nghi đời quá khứ, Hoài nghi cả đời vị lai và quá khứ, Hoài nghi pháp Y tương sinh do duyên trợ mới có ra như thế của La Hán vẫn có phải chăng?

Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh là do duyên trợ mới có ra như thế của La Hán không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu mà Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh bởi do duyên trợ mới ra như thế của La Hán không có thời chớ nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có, Hoài nghi, Hoài nghi Phật bảo, Hoài nghi Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh bởi duyên trợ mới có ra, như thế của họ cũng vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn có và Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh bởi vì pháp phải nhờ duyên trợ mới ra, như thế của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có, nhưng Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh do duyên trợ mới ra, như thế của Ngài vẫn không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của phàm phu vẫn có mà Sự Hoài nghi trong Phật bảo, Pháp bảo ... Hoài nghi pháp Y tương sinh do duyên trợ mới có ra, như thế của họ không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Ái mà La Hán đã trừ tuyệt, nhổ gốc rồi làm như cây thốt nốt đứt đọt dĩ nhiên làm cho sau này không sanh ra được nữa phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu mà Ái của La Hán đã đứt tuyệt nhổ gốc rễ rồi, làm như cây thốt nốt đứt ngọn dĩ nhiên không đặng sanh ra sau này nữa thời khỏi cần nói sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Sân ... Si ... Vô úy mà La Hán đã tuyệt trừ, đạo La Hán đã sanh ... Giác chi đã có rồi đặng trừ tuyệt Ái phải chăng? ... Đạo đã từng sanh ... Giác chi đã từng có hầu trừ tuyệt Sân ... đặng trừ tuyệt Vô úy ... La Hán là bực xa lìa Ái, Sân, Si, rồi đã làm cho rõ pháp đáng rõ phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Nếu mà La Hán là bực đã xa lìa Ái, Sân, Si ... đã làm cho rõ rệt pháp đáng làm cho rõ rệt thời không nên nói sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Sự Hoài nghi của La Hán, bực khôn khéo trong pháp của mình vẫn có, nhưng sự Hoài nghi không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp khác.

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán bực khôn khéo trong pháp khác vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Tự ngôn: Sự Hoài nghi không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp khác phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Sự Hoài nghi không có với La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, diệt trừ Ái nhưng sự Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: La Hán bực không khéo trong pháp khác đã tuyệt trừ Ái nhưng sự Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình đã tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Si rồi ... tuyệt trừ Vô úy ... Đạo đã sanh ... Giác chi đã từng có ra đặng tuyệt trừ Ái ... Đạo đặng sanh ... Giác chi đã từng sanh đặng tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Vô úy phải chăng?... Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình người đã xa lìa Ái, Sân, Si, làm cho rõ rệt pháp đáng làm rõ rệt, nhưng sự Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác thành người xa lìa Ái, Sân, Si rồi ...

đã làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ, nhưng Hoài nghi của Ngài vẫn còn có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác đã trừ Ái và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình đã tuyệt trừ và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó... Tự ngôn: La Hán khôn khéo trong pháp khác đã tuyệt trừ Sân ... tuyệt trừ Si rồi ... đã tuyệt trừ Vô úy ... Đạo đã sanh ... Giác chi đã từng có ra hầu tuyệt trừ Sân ... trừ tuyệt đặng Vô úy phải chăng? Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp khác thành người đã xa lìa Ái, Sân, Si, từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: La Hán bực khôn khéo trong pháp của mình, thành người đã xa lìa Ái, Sân, Si ... từng làm cho rõ pháp đáng làm cho rõ và sự Hoài nghi của Ngài cũng không có phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng này chư Phíc-khú, Như Lai nói lậu tận dành riêng cho người đang thấy, đang rõ, chớ không nói để cho người chẳng phải đang thấy đang rõ; mà người đang thấy bằng cách nào mới đặng sự lậu tận? người đang thấy đang rõ như vầy: "Đây là Sắc ... Đây là cách diệt của Thức. Này chư Phíc-khú, người đang thấy đang tỏ ngộ như thế mới đặng sự lậu tận. Như đây là bài Kinh vẫn thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: "Này chư Phíc-khú, Như Lai thuyết sự lậu tận dành riêng cho người đang thấy đang rõ, chớ không thuyết cho người chẳng phải đang thấy đang rõ. Mà người đang thấy đang rõ như thế nào mới đặng sự tận lậu? Người đang thấy đang rõ như vầy: "Đây là khổ ... đây là con đường đi đến diệt khổ, như thế mới đặng sự tận lậu. Này chư Phíc-khú, người đang thấy đang rõ như thế này mới đặng có sự tận lậu". Đây là bài Kinh vẫn chắc có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi.

Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: "Này chư Phíc-khú, người không hiểu bằng tuệ cao siêu, không chăm chú rõ, chẳng không bài trừ cả sự vật, vẫn là người không đáng để đặng khổ, khi nào rõ bằng tuệ cao siêu, chăm chú hiểu rõ, ói mửa tất cả sự vật mới thành người đáng làm cho hết khổ". Đây là bài Kinh vẫn có chắc phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có.

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: "Sơ đạo đồng thời khi ứng của Ngài ... thành người không thể sẽ làm sai cơ sở cách nặng". Đây là bài Kinh thật vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu thế đó cũng không nên nói rằng: "Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có".

Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: "Này chư Phíc-khú, khi nào con mắt thấy pháp mà xa lìa bụi trần phát sanh Thánh Tăng như vầy mỗi một sự nào sanh ra thì những sự vật tự nhiên sẽ diệt theo lẽ thường. Như thế trong khi đó đồng sanh ra nơi thấy, thời Thánh Tăng cũng bài trừ đặng ba cách như là Thân kiến, Hoài nghi, Giới cấm thủ". Bài Kinh thế này thật có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Tự ngôn: Sự Hoài nghi của La Hán vẫn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Đức Thế Tôn Ngài có phán rằng: "Chính khi nào tất cả pháp hiện bày cho phạm chí người đang có sự tinh tấn, tất cả Hoài nghi của phạm chí ấy vẫn thoạt mất, bởi do biết pháp luôn cả nhân. Chính khi nào tất cả pháp hiện bày cho phạm chí bực đặng tinh tấn, khi đó tất cả sự Hoài nghi của phạm chí ấy vẫn tiêu diệt do đặng biết đến sự mất của tất cả duyên. Mà khi nào tất cả pháp hiện bày cho phạm chí bực đang tinh tấn, khi ấy phạm chí đó vẫn hạn chế ma và tọa cụ ma (Māra) đặng như mặt trời mọc hạn chế tối, còn làm cho hư không sáng rỡ thế đó.

Sự Hoài nghi trong đời này hoặc đời khác, lịch sử ta hoặc lịch sử người khác, chẳng hạn cách nào người có sự tinh tấn phẩm hạnh tốt đẹp, vẫn bài trừ những sự Hoài nghi đó đều đặng hết. Những người nào lướt đặng tất cả sự Hoài nghi, trong khi những người đang có sự Hoài nghi thành bực không có sự Hoài nghi không trở ngại bố thí thì chỗ cho của người ấy có quả phúc rất nhiều. Cách thuyết pháp trong Tôn giáo này dĩ nhiên như thế, chư Thinh Văn đó vị nào hoặc sẽ còn Hoài nghi chúng tôi xin làm lễ Đức Phật bực cao tột, Ngài vượt khỏi dòng luân hồi và Ngài đoạn đứt sự Hoài nghi đặng". Như đây là bài Kinh vẫn có thật phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: Nếu thế đó thời không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Phản ngữ: Không nên nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn còn có phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi. Phản ngữ: La Hán có thể Hoài nghi trong tên và họ của nhiều người nam nữ, có thể Hoài nghi đường đi trúng trật, có thể Hoài nghi tên của rừng bụi cỏ cây cũng đặng phải chăng? Tự ngôn: Phải rồi. Phản ngữ: Nếu mà La Hán có thể Hoài nghi trong tên và họ của nhiều người nam nữ, có thể Hoài nghi đường đi trúng trật, có thể Hoài nghi tên của rừng núi cỏ cây cũng đặng. Chính do nhân đó, Ngài phải nói rằng sự Hoài nghi của La Hán vẫn có. Tự ngôn: Bởi La Hán có thể Hoài nghi trong tên và họ của nhiều kẻ nam nữ, có thể Hoài nghi đường đi trúng trật, có thể Hoài nghi tên rừng bụi cỏ cây cũng đặng, thế đó thì Sự Hoài nghi của La Hán mới còn có phải chăng? Phản ngữ: Phải rồi. Tự ngôn: La Hán có thể Hoài nghi trong Sơ quả, Nhị quả, Tam quả hoặc trong quả La Hán cũng đặng phải chăng? Phản ngữ: Không nên nói thế đó...

Dứt Hoài nghi ngữ