- Những pháp nào là thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn đồng căn (Ekamū-lamūlākā) với căn thiện phải chăng?
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với căn thiện, tất cả pháp ấy là thiện phải chăng?
"Sắc thiện sở sanh nương căn đồng căn với căn thiện mà không phải là thiện; còn pháp thiện thì nương căn đồng căn với căn thiện và cũng là thiện."
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn thiện, tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ tương căn với căn thiện phải chăng?
"Bất cứ các căn sanh chung nhau, thì các căn thiện vừa là nương căn đồng căn vừa thuộc căn hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh thiện ngoài ra đó nương căn đồng căn với căn thiện mà không phải thuộc căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ tương căn với căn thiện, tất cả pháp ấy là thiện.
Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy là căn bất thiện phải chăng?
"Căn bất thiện chỉ có ba, các pháp bất thiện ngoài ra không phải là căn bất thiện".
Hay những pháp nào là căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy có đồng căn với căn bất thiện phải chăng?
"Bất thiện vô nhân
(1) không đồng căn với căn bất thiện; bất thiện hữu nhân mới có đồng căn với căn bất thiện".
Hay là pháp nào có đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh(2) có đồng căn với căn bất thiện nhưng chẳng phải là bất thiện, còn pháp bất thiện vừa có đồng căn với căn bất thiện vừa là bất thiện!"
- Những pháp nào có đồng căn với căn bất thện, tất cả pháp ấy là hỗ tương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện ấy có đồng căn mà cũng là hỗ tương căn; còn những pháp câu sanh bất thiện căn ngoài ra thì có đồng căn với căn bất thiện mà không phải là hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là hỗ tương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào bất thiện, tất cả pháp ấy là căn bất thiện căn phải chăng?
"Căn bất thiện (Akusamūlamūla) chỉ có ba; các pháp bất thiện ngoài ra không phải là căn bất thiện căn".
Hay những pháp nào là căn bất thiện căn, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy có căn đồng căn với căn bất thiện pải không?
"Bất thiện vô nhân không có căn đồng căn với căn bất thiện, bất thiện hữu nhân mới có căn đồng căn với căn bất thiện".
Hay những pháp nào có căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh có căn đồng căn với căn bất thiện nhưng không phải là bất thiện; còn pháp bất thiện là có căn đồng căm với căn bất thiện và cũng là bất thiện".
- Những pháp nào có căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là căn hỗ tương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện (ấy) vừacó căn đồng căn cũng là căn hỗ tương căn; còn những pháp câu sanh căn bất thiện ngoài ra thì có căn đồng căn với căn bất thiện, nhưng không phải là căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là căn hỗ tương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn bất thiện; phải chăng ?
"Bất thiện vô nhân không nương căn bất thiện, chỉ có bất thiện hữn nhân mới nương căn bất thiện"
Hay những pháp nào nương căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh có nương căn bất thiện mà không phải là bất thiện mà không phải là bất thiện; chỉ có pháp bất thiện là nương căn bất thiện cũng là bất thiện".
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy có nương đồng căn với căn bất thiện phải chăng?
- "Bất thiện vô nhân không nương đồng căn với căn bất thiện, chỉ có bất thiện hữu nhân mới nương đồng căn với căn bất thiện".
Hay những pháp nào nương đồng căn với căn bất thiện tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng
"Sắc bất thiện sở sanh nương đồng căn với căn bất thiện, mà không phải là bất thiện; còn pháp bất thiện vừa là nương đồng căn với căn bất thiện vừa là bất thiện".
- Những pháp nào nương đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy thuộc hỗ tương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện ấy vừa là những đồng căn vừa là hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh bất thiện căn ngoài ra là nương đồng căn với căn bất thiện nhưng không thuộc hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc hỗ tương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn bất thiện căn phải chăng?
"Bất thiện vô nhân không có nương căn bất thiện căn; chỉ có bất thiện hữu
nhân là nương căn bất thiện căn".
Hay những pháp nào nương căn bất thiện căn, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh có nương căn bất thiện căn, mà không phải là bất thiện; chỉ có pháp bất thiện vừa là nương căn bất thiện căn, vừa là bất thiện."
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn đồng căn với căn bất thiện phải chăng?
"Bất thiện vô nhân không có nương căn đồng căn với căn bất thiện; chỉ có bất thiện hữu nhân là nương căn đồng căn với căn bất thiện".
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh nương căn đồng căn với căn bất thiện, nhưng không phải là bất thiện; còn pháp bất thiện vừa là nương căn đồng căn với căn bất thiện, vừa là bất thiện".
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ nương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện (ấy) vừa là nương căn đồng căn vừa thuộc căn hỗ nương căn; còn các pháp câu sanh bất thiện căn ngoài ra là nương căn đồng căn với căn bất thiện mà không thuộc căn hỗ nương căn.
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ nương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào là vô ký (Abyākata), tất cả pháp ấy là căn vô ký phải chăng?
"Căn vô ký chỉ có ba, các pháp vô ký ngoài ra không phải là căn vô ký".
Hay những pháp nào là căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy đồng căn với căn vô ký phải chăng?
(1) không đồng căn với căn vô ký, chỉ có vô ký hữu nhân
(2) mới đồng căn với căn vô ký".
Hay những pháp nào đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy đều là hỗ tương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (Vô ký) nào sanh chung nhau, những căn vô ký ấy vừa là đồng căn vừa là hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn vô ký ngoài ra thì đồng căn nhưng không là hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là hỗ tương căn với căn vô ký tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy là căn vô ký căn (Abyākatamūlamūlā) phải chăng?
"Căn vô ký căn chỉ có ba, các pháp vô ký ngoài ra không phải là căn vô ký căn".
Hay những pháp nào là căn vô ký căn, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả các pháp ấy là căn đồng căn với căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không phải là căn đồng căn với căn vô ký; chỉ là vô ký hữu nhân mới là căn đồng với căn vô ký".
Hay những pháp nào là căn đồng căn với căn vô ký tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là căn đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là căn hổ tương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (vô ký) nào sanh chung nhau, những căn vô ký ấy vừa là căn đồng căn cũng vừa là căn hỗ tương căn còn các pháp câu sanh căn vô ký ngoài ra thì là căn đồng căn nhưng không phải là căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là căn hỗ tương căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là vô ký, tất cả các pháp ấy đều nương căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương căn vô ký (Abyakatamūlaka) : chỉ có vô ký hữu nhân mới nương căn vô ký".
Hay những pháp nào nương căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy đều nương đồng căn với căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương đồng căn với căn vô ký chỉ có vô ký hữu nhân mới nương đồng căn với vô ký".
Hay những pháp nào nương đồng căn, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào nương đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy thuộc hỗ nương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (vô ký) nào sanh chung nhau, những căn vô ký ấy vừa là nương đồng căn vừa thuộc hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh vô ký căn ngoài ra thì là nương đồng căn nhưng không thuộc hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc hỗ nương căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy đều nương căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương căn vô ký căn, chỉ có vô ký hữu nhân là nương căn vô ký căn".
Hay những pháp nào nương căn vô ký căn, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy nương căn đồng căn với căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương căn đồng căn với căn vô ký, chỉ có vô ký hữu nhân mới nương căn đồng căn với căn vô ký".
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn vô ký tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ tương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (vô ký) nào sanh chung nhauṇhưng căn vô ký ấy vừa là nương căn đồng căn vừa thuộc căn hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn vô ký ngoài ra thì nương căn đồng căn nhưng không phải thuộc căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ tương căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là danh (nāma)(1) tất cả pháp ấy là căn danh (nāmamūla)(2) phải chăng?
"Căn danh chỉ có chín, các pháp danh ngoài ra không phải là căn danh".
Hay những pháp nào là căn danh, tất cả pháp ấy đều là danh phải chăng?
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy có đồng căn với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không đồng căn với căn danh chỉ có Danh hữu nhân mới có đồng căn với căn danh".
Hay những pháp nào đó đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải không?
"Sắc do danh sở sanh (Nāmasamuṭṭhānaṃ) là đồng căn với căn danh nhưng không phải là danh; còn danh pháp vừa là đồng căn với căn danh vừa là danh".
- Những pháp nào có đồng căn với căn danh tất cả pháp ấy là hỗ tương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau, những căn danh ấy vừa là đồng căn vừa là hỗ tương căn, còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì là đồng căn với căn danh, nhưng không phải là hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy là căn danh căn (Nāmamūlamūlā) phải chăng?
"Căn danh chỉ có chín; các pháp danh còn lại không phải là căn danh căn".
Hay những pháp nào là căn danh căn, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy có căn đồng căn với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không có căn đồng căn với căn danh; chỉ có danh hữu nhân mới có căn đồng căn với căn danh".
Hay những pháp nào có căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh có căn đồng căn với căn danh nhưng không phải là danh; còn danh pháp vừa là có căn đồng căn với căn danh, vừa là danh".
- Những pháp nào có căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là căn hỗ tương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau, những căn danh ấy vừa là có căn đồng căn vừa là có căn hỗ tương căn, còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì có căn đồng căn với căn danh nhưng không phải là căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là căn hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy đều nương căn danh (Nāmamūlakā) phải chăng?
"Danh vô nhân không có nương căn danh; chỉ có danh hữu nhân mới nương căn danh".
Hay những pháp nào nương căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương căn danh mà không phải là danh, còn danh pháp vừa là nương căn danh vừa là danh".
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy đều nương đồng căn (Ekamūlakā) với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không nương đồng căn với căn danh chỉ có danh hữu nhân
mới nương đồng căn với căn danh".
Hay là những pháp nào nương đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương đồng căn với căn danh mà không phải là danh; còn danh pháp vừa là nương đồng căn với căn danh, vừa là danh".
- Những pháp nào nương đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy thuộc hỗ tương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau, những căn danh ấy vừa là nương đồng căn và thuộc hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì nương đồng căn với căn danh nhưng không thuộc hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy đều nương căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không nương căn danh căn (Nāmamūlamūlakā); chỉ có danh hữu nhân mới nương căn danh căn".
Hay những pháp nào nương căn danh căn, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương căn danh căn mà không phải là danh, chỉ có danh pháp vừa là nương căn danh căn vừa là danh".
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy nương căn đồng căn với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không nương căn đồng căn; chỉ có danh hữu nhân mới nương căn đồng căn với căn danh".
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương căn đồng căn với căn danh mà không phải là danh; còn danh pháp vừa là nương căn đồng căn với căn danh, vừa là danh".
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ nương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau những căn danh ấy vừa nương căn đồng căn, vừa thuộc căn hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì nương căn đồng căn với căn danh mà không thuộc căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là thiện, tất cả pháp ấy là nhân thiện (Kusala-hetu) phải chăng?
... Là nhơn duyên thiện (Kusalanidāna) ...
... Là căn bổn thiện (Kusalasambhava) ...
... Là căn khởi nguồn thiện (Kusalappabhava) ...
... Là căn cơ sở thiện (Kusalasamuṭṭhāna) ...
... Là vật thực hiện (Kusalāhāra) ...
... Là cảnh thiện (Kusalārammaṇa) ...
... Là duyên thiện (Kusalupaccaya) ...
... Là tập khởi thiện (Kusalasamudaya) phải chăng?
- Những pháp nào là bất thiện ...
- Những pháp nào là vô ký ...
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy là nhân danh (Nāmahetu) phải chăng?
... Là nhơn duyên danh (Nāmanidāna) ...
... Là căn bổn danh (Nāmasambhava) ...
... Là khởi nguồn danh (Nāmappabhava) ...
... Là cơ sở danh (Nāmasamuṭṭhāna) ...
... Là vật thực danh (Nāmāhāra) ...
... Là cảnh danh (Nāmārammaṇa) ...
... Là duyên danh (Nāmapaccaya) ...
... Là tập khởi danh (Nāmasamudaya) phải chăng?
Căn, nhân, và nhơn duyên.
Căn bổn, và khởi nguồn.
Cơ sở, vật thực, cảnh.
Duyên sanh, và tập khởi.
DỨT PHẦN XIỂN MINH
KẾT THÚC CĂN SONG
Kính Lễ Ðức Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Biến Tri
VIII. TÂM SONG (Cittayamakaṃ)
XIỂN THUẬT PHẦN NGƯỜI (Puggalavāruddeso)
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH CHƯA DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM SẼ DIỆT KHÔNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm sẽ diệt không sanh thì người ấy tâm đang sanh chưa diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh mà đang diệt thì người ấy tâm sẽ không diệt mà sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không diệt mà sẽ sanh thì người ấy tâm không đang sanh mà đang diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM ÐÃ TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm đã từng sanh thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng sanh thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm đang sanh thì người ấy tâm sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ sanh thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm từng sanh thì người ấy tâm sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ sanh thì người ấy tâm từng sanh phải chăng?
Người nào tâm không từng sanh thì người ấy sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh thì người ấy tâm đã không từng sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM TỪNG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm từng diệt thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm không từng diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng diệt thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
Người nào tâm đang diệt thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
Người nào tâm từng diệt thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm từng diệt phải chăng?
Người nào tâm không từng diệt thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm khôngtừng diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM TỪNG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm từng diệt thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm không từng diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng diệt thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm đang sanh thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm từng sanh thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người ào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm từng sanh phải chăng?
Người nào tâm không từng sanh thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM KHÔNG ÐANG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm đang sanh thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm đang diệt thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM HIỆN SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa sanh thì người ấy tâm hiện sanh phải chăng?
Người nào tâm không hiện sanh thì người ấy tâm không vừa sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa sanh thì người ấy tâm không hiện sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM HIỆN ÐANG DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm hiện đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không hiện đang diệt thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM VỪA MỚI SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM ÐÃ TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm đã từng sanh thì người ấy tâm vừa mới sanh phải chăng?
Người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ sanh thì người ấy tâm vừa mới sanh phải chăng?
Người nào tâm khôngvừa mới sanh thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng sanh thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐÃ TỪNG SANH CHẲNG PHẢI VỪA MỚI SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM SẼ SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm sẽ sanh chẳng phải vừa mới sanh thì người ấy tâm đã từng sanh phải chăng?
Người nào tâm không từng sanh nhưng chẳng phải tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh nhưng chẳng phải không vừa mới sanh thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
TÂM VỪA SANH LÀ TÂM HIỆN SANH PHẢI CHĂNG ?
Tâm hiện sanh là tâm vừa sanh phải chăng?
Tâm không vừa sanh là không hiện sanh phải chăng?
Tâm không hiện sanh là tâm không vừa sanh phải chăng?
TÂM VỪA DIỆT LÀ TÂM HIỆN ÐANG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Tâm hiện đang diệt là tâm vừa diệt phải chăng?
Tâm không vừa diệt là tâm không hiện đag diệt phải chăng?
Tâm không hiện đang diệt là tâm không vừa diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM LƯỚT QUA, VƯỢT KHỎI THỜI ÐIỂM SÁT-NA SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM LƯỚT QUA, VƯỢT KHỎI THỜI ÐIỂM SÁT NA DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na diệt thì người ấy tâm lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na sanh phải chăng?
Người nào tâm chưa lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na sanh thì người ấy tâm chưa lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm chưa lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na diệt thì người ấy tâm chưa lưót qua vượt khỏi thời điểm sát na sanh phải chăng?
XIÊN THUẬT PHẦN PHÁP (DHAMMAVĀRUDDESO)
TÂM NÀO ÐANG SANH CHƯA DIỆT THÌ TÂM ẤY SẼ DIỆT CHẲNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào sẽ diệt chẳng sanh thì tâm ấy đang sanh chưa diệt phải chăng?
Tâm nào chẳng đang sanh đang diệt thì tâm ấy chẳng sẽ diệt sẽ sanh phải chăng?
Hay là tâm nào chẳng sẽ diệt sẽ sanh thì tâm ấy chẳng đang sanh đang diệt phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG SANH THÌ TÂM ẤY VỪA SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào vừa sanh thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy không vừa sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không vừa sanh thì tâm ấy chẳng đang sanh phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG DIỆT THÌ TÂM ẤY VỪA SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào vừa sanh thì tâm ấy đang diệt thì tâm ấy đang diệt phải chăng?
Tâm nào không đang diệt thì tâm ấy không vừa sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không vừa sanh thì tâm ấy không đang diệt phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG SANH THÌ TÂM ẤY TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào từng sanh thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy không từng sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không từng sanh thì tâm ấy không đang sanh phải chăng?
Tâm nào đang sanh thì tâm ấy sẽ sanh phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ sanh thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy sẽ không sanh phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không sanh thì tâm ấy không đang sanh phải chăng?
Tâm nào từng sanh thì tâm ấy sẽ sanh phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ sanh thì tâm ấy từng sanh phải chăng?
Tâm nào không từng sanh thì tâm ấy sẽ không sanh phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không sanh thì tâm ấy không từng sanh phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG DIỆT THÌ TÂM ẤY ÐÃ TỪNG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào đã từng diệt thì tâm ấy đang diệt phải chăng?
Tâm nào không đang diệt thì tâm ấy không từng diệt phải chăng?
Hay là tâm nào không từng diệt thì tâm ấy không đang diệt phải chăng?
Tâm nào đang diệt thì tâm ấy sẽ diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ diệt thì tâm ấy đang diệt phải chăng?
Tâm nào không đang diệt thì tâm ấy sẽ không diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không diệt thì tâm ấy không đang diệt phải chăng?
Tâm nào đã từng diệt thì tâm ấy sẽ diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ diệt thì tâm ấy đã từng diệt phải chăng?
Tâm nào không từng diệt thì tâm ấy sẽ không diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không diệt thì tâm ấy không từng diệt phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG SANH THÌ TÂM ẤY ÐÃ TỪNG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào đã từng diệt thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy không từng diệt phải chăng?
Hay là tâm nào không từng diệt thì tâm ấy không đang sah phải chăng?
Tâm nào đang sanh thì tâm ấy sẽ diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ diệt thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy sẽ không diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không diệt thì tâm ấy không đang sanh phải chăng?
Tâm nào đã từng sanh thì tâm ấy sẽ diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ diệt thì tâm ấy từng sanh phải chăng?
Tâm nào không từng sanh thì tâm ấy sẽ không diệt phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không diệt thì tâm ấy không từng sanh phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG SANH THÌ TÂM ẤY KHÔNG ÐANG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào không đang diệt thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy đang diệât phải chăng?
Hay là tâm nào đang diệt thì tâm ấy không đang sanh phải chăng?
TÂM NÀO HIỆN SANH (UPPAJJAMĀNAṂ) THÌ TÂM ẤY VỪA MỚI SANH (UPPANNAṂ) PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào vừa mới sanh thì tâm ấy hiện sanh phải chăng?
Tâm nào không hiện sanh thì tâm ấy không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không vừa mới sanh thì tâm ấy hiện đang sanh phải chăng?
TÂM NÀO HIỆN ÐANG DIỆT THÌ TÂM ẤY VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG ?
Hay là tâm nào vừa mới sanh thì tâm ấy hiện đangdiệt phải chăng?
Tâm nào không hiện đang diệt (na nirujjhamānaṃ) thì tâm ấy không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là tâm nào khôngvừa mới sanh thì tâm ấy không hiện đang diệt phải chăng?
TÂM NÀO VỪA MỚI SANH THÌ TÂM ẤY ÐÃ TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào đã từng sanh thì tâm ấy mới vừa sanh phải chăng?
Tâm nào mới vừa sanh thì tâm ấy sẽ sanh phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ sanh thì tâm ấy mới vừa sanh phải chăng?
Tâm nào không vừa mới sanh thì tâm ấy không từng anh phải chăng?
Hay là tâm nào không từng sanh thì tâm ấy không vừa mới sanh phải chăng?
Tâm nào không vừa mới sanh thì tâm ấy sẽ không sanh phải chăng?
Hay là tâm nào sẽ không sanh thì tâm ấy không vừa mới sanh phải chăng?
- Những pháp nào là thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn đồng căn (Ekamū-lamūlākā) với căn thiện phải chăng?
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với căn thiện, tất cả pháp ấy là thiện phải chăng?
"Sắc thiện sở sanh nương căn đồng căn với căn thiện mà không phải là thiện; còn pháp thiện thì nương căn đồng căn với căn thiện và cũng là thiện."
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn thiện, tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ tương căn với căn thiện phải chăng?
"Bất cứ các căn sanh chung nhau, thì các căn thiện vừa là nương căn đồng căn vừa thuộc căn hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh thiện ngoài ra đó nương căn đồng căn với căn thiện mà không phải thuộc căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ tương căn với căn thiện, tất cả pháp ấy là thiện.
Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy là căn bất thiện phải chăng?
"Căn bất thiện chỉ có ba, các pháp bất thiện ngoài ra không phải là căn bất thiện".
Hay những pháp nào là căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy có đồng căn với căn bất thiện phải chăng?
"Bất thiện vô nhân
(1) không đồng căn với căn bất thiện; bất thiện hữu nhân mới có đồng căn với căn bất thiện".
Hay là pháp nào có đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh(2) có đồng căn với căn bất thiện nhưng chẳng phải là bất thiện, còn pháp bất thiện vừa có đồng căn với căn bất thiện vừa là bất thiện!"
- Những pháp nào có đồng căn với căn bất thện, tất cả pháp ấy là hỗ tương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện ấy có đồng căn mà cũng là hỗ tương căn; còn những pháp câu sanh bất thiện căn ngoài ra thì có đồng căn với căn bất thiện mà không phải là hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là hỗ tương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào bất thiện, tất cả pháp ấy là căn bất thiện căn phải chăng?
"Căn bất thiện (Akusamūlamūla) chỉ có ba; các pháp bất thiện ngoài ra không phải là căn bất thiện căn".
Hay những pháp nào là căn bất thiện căn, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy có căn đồng căn với căn bất thiện pải không?
"Bất thiện vô nhân không có căn đồng căn với căn bất thiện, bất thiện hữu nhân mới có căn đồng căn với căn bất thiện".
Hay những pháp nào có căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh có căn đồng căn với căn bất thiện nhưng không phải là bất thiện; còn pháp bất thiện là có căn đồng căm với căn bất thiện và cũng là bất thiện".
- Những pháp nào có căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là căn hỗ tương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện (ấy) vừacó căn đồng căn cũng là căn hỗ tương căn; còn những pháp câu sanh căn bất thiện ngoài ra thì có căn đồng căn với căn bất thiện, nhưng không phải là căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là căn hỗ tương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn bất thiện; phải chăng ?
"Bất thiện vô nhân không nương căn bất thiện, chỉ có bất thiện hữn nhân mới nương căn bất thiện"
Hay những pháp nào nương căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh có nương căn bất thiện mà không phải là bất thiện mà không phải là bất thiện; chỉ có pháp bất thiện là nương căn bất thiện cũng là bất thiện".
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy có nương đồng căn với căn bất thiện phải chăng?
- "Bất thiện vô nhân không nương đồng căn với căn bất thiện, chỉ có bất thiện hữu nhân mới nương đồng căn với căn bất thiện".
Hay những pháp nào nương đồng căn với căn bất thiện tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng
"Sắc bất thiện sở sanh nương đồng căn với căn bất thiện, mà không phải là bất thiện; còn pháp bất thiện vừa là nương đồng căn với căn bất thiện vừa là bất thiện".
- Những pháp nào nương đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy thuộc hỗ tương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện ấy vừa là những đồng căn vừa là hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh bất thiện căn ngoài ra là nương đồng căn với căn bất thiện nhưng không thuộc hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc hỗ tương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn bất thiện căn phải chăng?
"Bất thiện vô nhân không có nương căn bất thiện căn; chỉ có bất thiện hữu
nhân là nương căn bất thiện căn".
Hay những pháp nào nương căn bất thiện căn, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh có nương căn bất thiện căn, mà không phải là bất thiện; chỉ có pháp bất thiện vừa là nương căn bất thiện căn, vừa là bất thiện."
- Những pháp nào là bất thiện, tất cả pháp ấy đều nương căn đồng căn với căn bất thiện phải chăng?
"Bất thiện vô nhân không có nương căn đồng căn với căn bất thiện; chỉ có bất thiện hữu nhân là nương căn đồng căn với căn bất thiện".
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
"Sắc bất thiện sở sanh nương căn đồng căn với căn bất thiện, nhưng không phải là bất thiện; còn pháp bất thiện vừa là nương căn đồng căn với căn bất thiện, vừa là bất thiện".
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ nương căn với căn bất thiện phải chăng?
"Những căn (bất thiện) nào sanh chung nhau, những căn bất thiện (ấy) vừa là nương căn đồng căn vừa thuộc căn hỗ nương căn; còn các pháp câu sanh bất thiện căn ngoài ra là nương căn đồng căn với căn bất thiện mà không thuộc căn hỗ nương căn.
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ nương căn với căn bất thiện, tất cả pháp ấy là bất thiện phải chăng?
Những pháp nào là vô ký (Abyākata), tất cả pháp ấy là căn vô ký phải chăng?
"Căn vô ký chỉ có ba, các pháp vô ký ngoài ra không phải là căn vô ký".
Hay những pháp nào là căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy đồng căn với căn vô ký phải chăng?
(1) không đồng căn với căn vô ký, chỉ có vô ký hữu nhân
(2) mới đồng căn với căn vô ký".
Hay những pháp nào đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy đều là hỗ tương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (Vô ký) nào sanh chung nhau, những căn vô ký ấy vừa là đồng căn vừa là hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn vô ký ngoài ra thì đồng căn nhưng không là hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là hỗ tương căn với căn vô ký tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy là căn vô ký căn (Abyākatamūlamūlā) phải chăng?
"Căn vô ký căn chỉ có ba, các pháp vô ký ngoài ra không phải là căn vô ký căn".
Hay những pháp nào là căn vô ký căn, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả các pháp ấy là căn đồng căn với căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không phải là căn đồng căn với căn vô ký; chỉ là vô ký hữu nhân mới là căn đồng với căn vô ký".
Hay những pháp nào là căn đồng căn với căn vô ký tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là căn đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là căn hổ tương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (vô ký) nào sanh chung nhau, những căn vô ký ấy vừa là căn đồng căn cũng vừa là căn hỗ tương căn còn các pháp câu sanh căn vô ký ngoài ra thì là căn đồng căn nhưng không phải là căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là căn hỗ tương căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là vô ký, tất cả các pháp ấy đều nương căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương căn vô ký (Abyakatamūlaka) : chỉ có vô ký hữu nhân mới nương căn vô ký".
Hay những pháp nào nương căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy đều nương đồng căn với căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương đồng căn với căn vô ký chỉ có vô ký hữu nhân mới nương đồng căn với vô ký".
Hay những pháp nào nương đồng căn, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào nương đồng căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy thuộc hỗ nương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (vô ký) nào sanh chung nhau, những căn vô ký ấy vừa là nương đồng căn vừa thuộc hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh vô ký căn ngoài ra thì là nương đồng căn nhưng không thuộc hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc hỗ nương căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy đều nương căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương căn vô ký căn, chỉ có vô ký hữu nhân là nương căn vô ký căn".
Hay những pháp nào nương căn vô ký căn, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào là vô ký, tất cả pháp ấy nương căn đồng căn với căn vô ký phải chăng?
"Vô ký vô nhân không nương căn đồng căn với căn vô ký, chỉ có vô ký hữu nhân mới nương căn đồng căn với căn vô ký".
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn vô ký tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ tương căn với căn vô ký phải chăng?
"Những căn (vô ký) nào sanh chung nhauṇhưng căn vô ký ấy vừa là nương căn đồng căn vừa thuộc căn hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn vô ký ngoài ra thì nương căn đồng căn nhưng không phải thuộc căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ tương căn với căn vô ký, tất cả pháp ấy là vô ký phải chăng?
Những pháp nào là danh (nāma)(1) tất cả pháp ấy là căn danh (nāmamūla)(2) phải chăng?
"Căn danh chỉ có chín, các pháp danh ngoài ra không phải là căn danh".
Hay những pháp nào là căn danh, tất cả pháp ấy đều là danh phải chăng?
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy có đồng căn với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không đồng căn với căn danh chỉ có Danh hữu nhân mới có đồng căn với căn danh".
Hay những pháp nào đó đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải không?
"Sắc do danh sở sanh (Nāmasamuṭṭhānaṃ) là đồng căn với căn danh nhưng không phải là danh; còn danh pháp vừa là đồng căn với căn danh vừa là danh".
- Những pháp nào có đồng căn với căn danh tất cả pháp ấy là hỗ tương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau, những căn danh ấy vừa là đồng căn vừa là hỗ tương căn, còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì là đồng căn với căn danh, nhưng không phải là hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy là căn danh căn (Nāmamūlamūlā) phải chăng?
"Căn danh chỉ có chín; các pháp danh còn lại không phải là căn danh căn".
Hay những pháp nào là căn danh căn, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy có căn đồng căn với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không có căn đồng căn với căn danh; chỉ có danh hữu nhân mới có căn đồng căn với căn danh".
Hay những pháp nào có căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh có căn đồng căn với căn danh nhưng không phải là danh; còn danh pháp vừa là có căn đồng căn với căn danh, vừa là danh".
- Những pháp nào có căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là căn hỗ tương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau, những căn danh ấy vừa là có căn đồng căn vừa là có căn hỗ tương căn, còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì có căn đồng căn với căn danh nhưng không phải là căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào là căn hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy đều nương căn danh (Nāmamūlakā) phải chăng?
"Danh vô nhân không có nương căn danh; chỉ có danh hữu nhân mới nương căn danh".
Hay những pháp nào nương căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương căn danh mà không phải là danh, còn danh pháp vừa là nương căn danh vừa là danh".
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy đều nương đồng căn (Ekamūlakā) với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không nương đồng căn với căn danh chỉ có danh hữu nhân
mới nương đồng căn với căn danh".
Hay là những pháp nào nương đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương đồng căn với căn danh mà không phải là danh; còn danh pháp vừa là nương đồng căn với căn danh, vừa là danh".
- Những pháp nào nương đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy thuộc hỗ tương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau, những căn danh ấy vừa là nương đồng căn và thuộc hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì nương đồng căn với căn danh nhưng không thuộc hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy đều nương căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không nương căn danh căn (Nāmamūlamūlakā); chỉ có danh hữu nhân mới nương căn danh căn".
Hay những pháp nào nương căn danh căn, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương căn danh căn mà không phải là danh, chỉ có danh pháp vừa là nương căn danh căn vừa là danh".
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy nương căn đồng căn với căn danh phải chăng?
"Danh vô nhân không nương căn đồng căn; chỉ có danh hữu nhân mới nương căn đồng căn với căn danh".
Hay những pháp nào nương căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
"Sắc do danh sở sanh nương căn đồng căn với căn danh mà không phải là danh; còn danh pháp vừa là nương căn đồng căn với căn danh, vừa là danh".
- Những pháp nào nương căn đồng căn với căn danh, tất cả pháp ấy thuộc căn hỗ nương căn với căn danh phải chăng?
"Những căn (danh) nào sanh chung nhau những căn danh ấy vừa nương căn đồng căn, vừa thuộc căn hỗ tương căn; còn các pháp câu sanh căn danh ngoài ra thì nương căn đồng căn với căn danh mà không thuộc căn hỗ tương căn".
Hay những pháp nào thuộc căn hỗ tương căn với căn danh, tất cả pháp ấy là danh phải chăng?
Những pháp nào là thiện, tất cả pháp ấy là nhân thiện (Kusala-hetu) phải chăng?
... Là nhơn duyên thiện (Kusalanidāna) ...
... Là căn bổn thiện (Kusalasambhava) ...
... Là căn khởi nguồn thiện (Kusalappabhava) ...
... Là căn cơ sở thiện (Kusalasamuṭṭhāna) ...
... Là vật thực hiện (Kusalāhāra) ...
... Là cảnh thiện (Kusalārammaṇa) ...
... Là duyên thiện (Kusalupaccaya) ...
... Là tập khởi thiện (Kusalasamudaya) phải chăng?
- Những pháp nào là bất thiện ...
- Những pháp nào là vô ký ...
- Những pháp nào là danh, tất cả pháp ấy là nhân danh (Nāmahetu) phải chăng?
... Là nhơn duyên danh (Nāmanidāna) ...
... Là căn bổn danh (Nāmasambhava) ...
... Là khởi nguồn danh (Nāmappabhava) ...
... Là cơ sở danh (Nāmasamuṭṭhāna) ...
... Là vật thực danh (Nāmāhāra) ...
... Là cảnh danh (Nāmārammaṇa) ...
... Là duyên danh (Nāmapaccaya) ...
... Là tập khởi danh (Nāmasamudaya) phải chăng?
Căn, nhân, và nhơn duyên.
Căn bổn, và khởi nguồn.
Cơ sở, vật thực, cảnh.
Duyên sanh, và tập khởi.
DỨT PHẦN XIỂN MINH
KẾT THÚC CĂN SONG
Kính Lễ Ðức Thế Tôn Ứng Cúng Chánh Biến Tri
VIII. TÂM SONG (Cittayamakaṃ)
XIỂN THUẬT PHẦN NGƯỜI (Puggalavāruddeso)
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH CHƯA DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM SẼ DIỆT KHÔNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm sẽ diệt không sanh thì người ấy tâm đang sanh chưa diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh mà đang diệt thì người ấy tâm sẽ không diệt mà sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không diệt mà sẽ sanh thì người ấy tâm không đang sanh mà đang diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM ÐÃ TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm đã từng sanh thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng sanh thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm đang sanh thì người ấy tâm sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ sanh thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm từng sanh thì người ấy tâm sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ sanh thì người ấy tâm từng sanh phải chăng?
Người nào tâm không từng sanh thì người ấy sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh thì người ấy tâm đã không từng sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM TỪNG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm từng diệt thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm không từng diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng diệt thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
Người nào tâm đang diệt thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
Người nào tâm từng diệt thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm từng diệt phải chăng?
Người nào tâm không từng diệt thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm khôngtừng diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM TỪNG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm từng diệt thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm không từng diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng diệt thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm đang sanh thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm không đang sanh thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
Người nào tâm từng sanh thì người ấy tâm sẽ diệt phải chăng?
Hay là người ào tâm sẽ diệt thì người ấy tâm từng sanh phải chăng?
Người nào tâm không từng sanh thì người ấy tâm sẽ không diệt phải chăng
Hay là người nào tâm sẽ không diệt thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐANG SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM KHÔNG ÐANG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm không đang diệt thì người ấy tâm đang sanh phải chăng?
Người nào tâm đang sanh thì người ấy tâm đang diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm đang diệt thì người ấy tâm không đang sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM HIỆN SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa sanh thì người ấy tâm hiện sanh phải chăng?
Người nào tâm không hiện sanh thì người ấy tâm không vừa sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa sanh thì người ấy tâm không hiện sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM HIỆN ÐANG DIỆT THÌ NGƯỜI ẤY TÂM VỪA MỚI SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm hiện đang diệt phải chăng?
Người nào tâm không hiện đang diệt thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm không đang diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM VỪA MỚI SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM ÐÃ TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm đã từng sanh thì người ấy tâm vừa mới sanh phải chăng?
Người nào tâm vừa mới sanh thì người ấy tâm sẽ sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ sanh thì người ấy tâm vừa mới sanh phải chăng?
Người nào tâm khôngvừa mới sanh thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm không từng sanh thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
Người nào tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh thì người ấy tâm không vừa mới sanh phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM ÐÃ TỪNG SANH CHẲNG PHẢI VỪA MỚI SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM SẼ SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm sẽ sanh chẳng phải vừa mới sanh thì người ấy tâm đã từng sanh phải chăng?
Người nào tâm không từng sanh nhưng chẳng phải tâm không vừa mới sanh thì người ấy tâm sẽ không sanh phải chăng?
Hay là người nào tâm sẽ không sanh nhưng chẳng phải không vừa mới sanh thì người ấy tâm không từng sanh phải chăng?
TÂM VỪA SANH LÀ TÂM HIỆN SANH PHẢI CHĂNG ?
Tâm hiện sanh là tâm vừa sanh phải chăng?
Tâm không vừa sanh là không hiện sanh phải chăng?
Tâm không hiện sanh là tâm không vừa sanh phải chăng?
TÂM VỪA DIỆT LÀ TÂM HIỆN ÐANG DIỆT PHẢI CHĂNG?
Tâm hiện đang diệt là tâm vừa diệt phải chăng?
Tâm không vừa diệt là tâm không hiện đag diệt phải chăng?
Tâm không hiện đang diệt là tâm không vừa diệt phải chăng?
NGƯỜI NÀO TÂM LƯỚT QUA, VƯỢT KHỎI THỜI ÐIỂM SÁT-NA SANH THÌ NGƯỜI ẤY TÂM LƯỚT QUA, VƯỢT KHỎI THỜI ÐIỂM SÁT NA DIỆT PHẢI CHĂNG?
Hay là người nào tâm lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na diệt thì người ấy tâm lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na sanh phải chăng?
Người nào tâm chưa lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na sanh thì người ấy tâm chưa lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na diệt phải chăng?
Hay là người nào tâm chưa lướt qua vượt khỏi thời điểm sát na diệt thì người ấy tâm chưa lưót qua vượt khỏi thời điểm sát na sanh phải chăng?
XIÊN THUẬT PHẦN PHÁP (DHAMMAVĀRUDDESO)
TÂM NÀO ÐANG SANH CHƯA DIỆT THÌ TÂM ẤY SẼ DIỆT CHẲNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào sẽ diệt chẳng sanh thì tâm ấy đang sanh chưa diệt phải chăng?
Tâm nào chẳng đang sanh đang diệt thì tâm ấy chẳng sẽ diệt sẽ sanh phải chăng?
Hay là tâm nào chẳng sẽ diệt sẽ sanh thì tâm ấy chẳng đang sanh đang diệt phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG SANH THÌ TÂM ẤY VỪA SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào vừa sanh thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy không vừa sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không vừa sanh thì tâm ấy chẳng đang sanh phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG DIỆT THÌ TÂM ẤY VỪA SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào vừa sanh thì tâm ấy đang diệt thì tâm ấy đang diệt phải chăng?
Tâm nào không đang diệt thì tâm ấy không vừa sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không vừa sanh thì tâm ấy không đang diệt phải chăng?
TÂM NÀO ÐANG SANH THÌ TÂM ẤY TỪNG SANH PHẢI CHĂNG?
Hay là tâm nào từng sanh thì tâm ấy đang sanh phải chăng?
Tâm nào không đang sanh thì tâm ấy không từng sanh phải chăng?
Hay là tâm nào không từng sanh thì tâm ấy không đang sanh phải chăng?