DỨT ÐẦU ÐỀ NHƠN CHẾ ÐỊNH.
XIỂN MINH PHẦN MỘT CHI (EKANIDDESO)
- Thế nào là hạng thời giải thoát (puggalo samayavimutto)?
Ở đây có hạng người an trú do thân đắc được tâm giải thoát lúc đúng thời đúng dịp; và khi dùmg trí tuệ quán thấy thì một số lậu hoặc được đoạn tận. Ðây gọi là hạng người thời giải thoát.
- Thế nào là hạng người phi thời giải thoát (puggalo asamayavimutto)?
Ở đây có hạng người không được an trú do thân đắc được tâm giải thoát lúc đúng thời đúng dịp, nhưng khi dùng trí tuệ quán thấy thì một số lậu hoặc được đoạn tận. Ðây gọi là hạng người phi thời giải thoát.
Tất cả thánh nhơn đều là bậc phi thời giải thoát trong thánh giải - thoát.
- Thế nào là hạng người di động pháp (puggalo kuppadhammo)?
Ở đây có hạng người đắc thiền sắc hoặc thiền vô sắc hay nhập thiền, nhưng người ấy chẳng phải đắc không vất vả, chẳng phải đắc không khó khăn, chẳng phải đắc không khổ cực, chẳng được nhập thiền xuất thiền ở đâu lúc nào bao lâu như ý muốn; sự kiện này có xảy ra là khi người ấy dễ duôi thì các thiền chứng đó có thể bị biến hoại. Ðây gọi là hạng người di-động pháp.
- Thế nào là hạng người bất động pháp (puggalo akuppadhammo)?
Ở đây có hạng người đắc thiền sắc hay thiền vô sắc hoặc nhập thiền, người ấy đắc không vất vả, đắc không khó khăn, đắc không khổ cực, nhập thiền xuất thiền ở đâu lúc nào bao lâu như ý muốn; không có sự kiện các thiên chứng đó của người ấy bị biến hoại do dễ duôi. Ðây gọi là hạng người bất động pháp.
Tất cả thánh nhơn đều là bậc bất động pháp trong thánh giải thoát.
- Thế nào là hạng người suy-thối pháp (puggalo parihānadhammo)?
Ở đây có hạng người đắc thiền sắc hay thiền vô sắc hoặc nhập thiền, người ấy chẳng phải đắc không vất vả, chẳng phải đắc không khó khăn, chẳng phải đắc không khổ cực, chẳng được nhập thiền xuất thiền ở đâu lúc nào bao lâu như ý muốn; sự kiện này có xảy ra là người ấy có thể thối hóa bởi các thiền ấy khi đã dễ duôi đây gọi là hạng người suy-thối pháp.
- Thế nào là hạng người bất suy pháp (puggalo aparihānadhammo)?
Ở đây có hạng người đắc thiền sắc hay thiền vô sắc hoặc nhập thiền, người ấy đắc không vất vả, đắc không khó khăn, đắc không khổ cực, nhập thiền xuất thiền ở đâu lúc nào bao lâu như ý muốn; không có sự kiện người ấy thối hóa bởi các thiền ấy khi đã dễ duôi. Ðây gọi là hạng người bất suy pháp.
Tất cả thánh nhơn đều là bậc bất suy pháp trong thánh giải thoát.
- Thế nào là hạng người khả tư cố (puggalo cetanābhabbo)?
Ở đây có hạng người đắc thiền sắc hay thiền vô sắc hoặc nhập thiền, người ấy chẳng phải đắc không vất vả, chẳng phải đắc không khó khăn, chẳng phải đắc không khổ cực, chẳng được nhập thiền xuất thiền ở đâu lúc nào bao lâu như ý muốn; nếu chú tâm (anusanceteti) thì không bị hoại các thiền chứng đó, bằng như không chú tâm thì bị hoại các thiền chứng đó. Ðấy gọi là hạng ngưới khả tư cố [Cetanābhabbo, có khả năng thiền nhờ chú tâm]
- Thế nào là hạng người khả bảo trì (anurakkhanābhabbo)?
Ở đây, có hạng người đắc thiền sắc hay vô sắc hoặc nhập thiền, người ấy chẳng phải đắc không vất vả, chẳng phải đắc không khó khăn, chẳng phải đắc không khổ cực, chẳng được nhập thiền xuất thiền ở đâu lúc nào bao lâu như ý muốn; nếu phòng hộ (anurakkhati) thì không bị hoại các thiền đó, bằng như không phòng hộ thì bị hoại các thiền đó. Ðây gọi là hạng người khả bảo trì [Anurakkhanābhabbo, có khả năng thiền nhờ phòng hộ]
- Thế nào là hạng người phàm phu (puthujjano)?
Ðối với hạng người nào ba pháp triền chưa đoạn tận và cũng không thực hành để đoạn trừ các pháp ấy. Ðây gọi là hạng người phàm phu.
- Thế nào là hạng người chuyển tộc (Gotrabhū)?
Sẽ bước vào tánh pháp thánh do nhờ pháp chuyển tiếp (samanantura) nào, thì người đang có phát ấy đây gọi là hạng người chuyển tộc.
- Thế nào là hạng người úy kiêng (bhayūparato)?
Bảy hạng hữu học (sekkhā) và hạng phàm nhân có giới, là người úy kiêng (bhayūparato) [úy kiêng: là tránh điều ác do tâm sợ hãi.].
Bậc A-la-hán là hạng vô úy kiêng (abhayūparato) [vô úy kiêng: là bỏ điều ác không do sợ hãi, vị A-la-hán không làm ác do Pháp tánh đã thanh tịnh.]
- Thế nào là hạng người vô khả đắc (abhabbāgamano)?
Những hạng người mà bị nghiệp chướng, bị phiền não chướng, bị quả chướng, không có niềm tin, không có hoài bão, thiếu trí, ngu đần, không có khả năng dự vào phần chánh cố-định trong các thiện pháp. Ðây gọi là những hạng người vô khả đắc.
- Thế nào là hạng người khả đắc (bhabbāgamano)?
Những hạng người mà không bị nghiệp chướng, không bị phiền não chướng, không bị quả chướng, có đức tín, có hoài bão, có trí tuệ, không ngoan (anelā), có khả năng dự vào phần chánh cố định trong các thiện pháp. Ðây gọi là những hạng người khả đắc.
- Thế nào lá hạng người định phần (niyato)?
Năm hạng người tạo nghịch vô gián [tội nghịch vô gián (anantarika) là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, trích máu phật, chia rẻ Tăng.] và người tà kiến [ở đây chỉ cho thập vô kiến (naṭṭhikadiṭṭhi) không tin cha mẹ có ăn v.v...] là hạng cố định [sáu hạng ác nhận thấy nhất định sanh đọa sau khi chết], tám hạng thánh nhân [ariyapuggala, là bổn hạng thánh đạo và bốn hạng thánh quả] cũng là hạng cố định [các bậc thánh hữu học nhất định không còn sanh đọa thú, bậc A-la-hán nhất định không còn tái sanh]. Những hạng người khác là hạng vô định phần (aniyato).
- Thế nào là hạng người tiến hành (patipannako)?
Bốn hạng thánh đạo, là hạng người tiến hành.
Bốn hạng thánh quả, là hạng người trụ quả (phaleṭṭhito).
- Thế nào là hạn người đồng thời tận (Samasīsī)?
Ðối với hạng người nào lậu hoặc đoạn tận và mạng sống đoạn tận cùng lúc không trước không sau. Ðây là hạng người đồng thời tận.
- Thế nào là hạng người trụ kiếp (thitakappī)?
Ðây là hạng người đang tiến hành để chứng đắc quả dự lưu, gặp lúc thiêu hủy kiếp (trái đất), cho đến khi nào người ấy chưa chứng quả dự lưu, thì khi ấy kiếp (trái đất) chưa thể bị thiêu cháy được. Ðây gọi là hạng người trụ kiếp.
Tất cả hạng người đạo (maggasamangī) cũng gọi là hạng trụ kiếp.
- Thế nào là hạng người thánh (ariyo)?
Tám hạng thánh nhân là người thánh.
Những hạng người còn lại gọi là phi thánh (anāriya).
- Thế nào là hạng người hữu học (sekho)?
Bốn người đạo và ba người quả (thấp), là hạng người hữu học.
Bậc A La Hán (quả) là người vô học (asekho) những hạng người còn lại là người phi hữu học phi vô học.