- Chư pháp thiện trong khi có ra sao? Thiện trong 4 cõi. Những chơn tướng này gọi là chư pháp thiện (kusalā dhammā).
- Chư pháp bất thiện trong khi có ra sao? 12 tâm bất thiện hiện hành. Những chơn tướng này gọi là chư pháp bất thiện. - Chư pháp vô ký trong khi có ra sao? Dị thục quả trong 4 cõi, vô ký tố (kiriyā) trong 3 cõi, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô ký. - Chư pháp tương ưng lạc thọ ra sao? Tâm đồng sanh với lạc thọ, 4 thứ tâm thiện Dục giới, 4 thứ tâm bất thiện, tâm dị thục quả thiện Dục giới và tâm tố mỗi phần 5 thứ. Ba bậc thiền hoặc 4 bậc thiền Sắc giới thiện, dị thục quả và tố (kiriyā). Ba bậc thiền hoặc 4 bậc thiền siêu thế thiện và dị thục quả trừ lạc đồng sanh với những tâm này. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tương ưng lạc thọ. - Chư pháp tương ưng khổ thọ ra sao? Tâm đồng sanh với ưu thọ: 2 thứ và thân thức đồng sanh với khổ thọ mà trừ khổ thọ đồng sanh với tâm ấy. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tương ưng khổ thọ. - Chư pháp đồng sanh với phi khổ phi lạc thọ ra sao? Tâm đồng sanh với xả thọ: Thiện Dục giới 4 thứ, bất thiện 6 thứ, dị thục quả thiện Dục giới 10 thứ, dị thục quả bất thiện
6 thứ, tâm tố (kiriyā) 6 thứ; tứ thiền Sắc giới: Thiện, dị thục quả và tố; 4 thứ tâm thiện, dị thục quả và tố Vô sắc giới; tứ thiền siêu thế: Thiện và quả mà trừ ra phi khổ phi lạc thọ sanh với những tâm ấy. Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với phi khổ phi lạc thọ.
Cả 3 thọ, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này không thể gọi là pháp tương ưng lạc thọ, pháp tương ưng khổ thọ và pháp tương ưng phi khổ phi lạc thọ.
- Chư pháp dị thục quả trong khi có ra sao? Tâm dị thục quả trong 4 cõi. Những chơn tướng này gọi là chư pháp dị thục quả.
- Chư pháp dị thục nhân trong khi có ra sao? Tâm bất thiện và thiện trong 4 cõi. Những chơn tướng này gọi là chư pháp dị thục nhân.
- Chư pháp phi dị thục quả phi dị thục nhân ra sao? Tâm vô ký tố trong 3 cõi, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi dị thục quả phi dị thục nhân.
- Chư pháp thành do thủ và cảnh thủ ra sao? Tâm dị thục quả trong 3 cõi và sắc nghiệp tạo. Những chơn tướng này gọi là chư pháp thành do thủ và cảnh thủ.
- Chư pháp phi thành do thủ mà cảnh thủ ra sao? Bất thiện và thiện trong 3 cõi, vô ký tố trong 3 cõi và sắc phi nghiệp tạo. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi thành do thủ mà cảnh thủ.
- Chư pháp phi thành do thủ và phi cảnh thủ ra sao? 4 đạo, 4 quả siêu thế và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi thành do thủ và phi cảnh thủ. - Chư pháp phiền toái và cảnh phiền não ra sao? 12 tâm bất thiện sanh ra. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phiền toái và cảnh phiền não.
- Chư pháp phi phiền toái mà cảnh phiền não ra sao? Tâm thiện trong 3 cõi, tâm dị thục quả trong 3 cõi, tâm vô ký tố trong 3 cõi và tất cả sắc pháp. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi phiền toái mà cảnh phiền não.
- Chư pháp phi phiền toái và phi cảnh phiền não ra sao? 4 đạo, 4 quả siêu thế và níp bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi phiền toái và phi cảnh phiền não.
- Chư pháp hữu tầm hữu tứ trong khi có ra sao? Bất thiện và thiện Dục giới, 11 tâm quả thiện Dục giới, 2 tâm quả bất thiện, 11 tâm tố (kirayā); sơ thiền Sắc giới: Thiện, dị thục quả và tố; sơ thiền siêu thế: Thiện, dị thục quả (trừ tầm và tứ sanh trong những tâm ấy). Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu tầm hữu tứ.
- Chư pháp vô tầm hữu tứ ra sao? Nhị thiền Sắc giới sắp theo 5 bậc: Thiện, dị thục quả và tố. Nhị thiền siêu thế sắp theo 5 bậc: Thiện và dị thục quả (trừ tứ) trong những tâm sanh ấy. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô tầm hữu tứ.
- Chư pháp vô tầm vô tứ trong khi có ra sao? Ngũ song thức, thiện, dị thục quả và tâm tố tam thiền Sắc giới sắp lên; thiện, dị thục quả và tố Vô sắc giới; thiện, dị thục quả siêu thế tam thiền sắp lên, sắc pháp, níp-bàn và lấy lại tứ trong nhị thiền nếu sắp theo 5 bậc.
Tứ trong nhị thiền sắp theo 5 bậc; tứ sanh với tầm không thể nói hữu tầm hữu tứ, vô tầm hữu tứ và vô tầm vô tứ cũng không thể nói đặng.
- Chư pháp đồng sanh với pháp hỷ ra sao? Tâm đồng sanh với hỷ thọ, 4 tâm thiện Dục giới, 4 tâm bất thiện, 5 tâm quả thiện Dục giới, 5 tâm tố. Thiền 2 bậc hoặc 3 bậc thiện, dị thục quả và tố Sắc giới. Thiền 2 bậc hoặc 3 bậc thiện và dị thục quả siêu thế (trừ pháp hỷ sanh chung với những tâm ấy). Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với pháp hỷ.
- Chư pháp đồng sanh với lạc thọ ra sao? Tâm đồng sanh với lạc thọ: 4 thứ tâm thiện Dục giới, 4 thứ tâm bất thiện, tâm dị thục quả thiện Dục giới và tâm tố (mỗi phần 5 thứ), 3 bậc hoặc 4 bậc thiền Sắc giới thiện, dị thục quả và tố. 3 bậc hoặc 4 bậc thiền siêu thế, thiện, dị thục quả (trừ lạc đồng sanh với những tâm này). Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với lạc thọ.
- Chư pháp đồng sanh với xả thọ ra sao? Tâm đồng sanh với xả thọ:
Thiện Dục giới 4 thứ, bất thiện 6 thứ, dị thục quả thiện Dục giới 10 thứ, dị thục quả bất thiện 6 thứ, tâm tố 6 thứ.
Tứ thiền thiện, dị thục quả và tố sắc giới.
4 thứ tâm thiện, dị thục quả và tố Vô sắc giới. Tứ thiền siêu thế thiện và dị thục quả trừ phi khổ phi lạc thọ sanh với những tâm ấy. Những chơn tướng này gọi là chư pháp đồng sanh với xả thọ.
Pháp hỷ không đồng sanh với pháp hỷ mà đồng sanh với hỷ thọ chớ không đồng sanh với xả thọ.
Lạc thọ không đồng sanh với lạc thọ mà đồng sanh với pháp hỷ và xả thọ cũng không đồng sanh với pháp hỷ.
Hai thứ tâm đồng sanh với ưu thọ, thân thức đồng sanh với khổ thọ, xả thọ, sắc pháp và níp-bàn. Những pháp này không thể nói đồng sanh với lạc thọ và cũng không thể nói đồng sanh với xả thọ.
- Chư pháp sơ đạo tuyệt trừ ra sao? 4 thứ tâm sanh tương ưng với tà kiến và tâm đồng sanh với hoài nghi. Những chơn tướng này gọi là chư pháp sơ đạo tuyệt trừ. - Chư pháp ba đạo cao tuyệt trừ ra sao? Tâm đồng sanh với phóng dật; còn những 4 tâm tham bất tương ưng, 2 tâm sân và 2 tâm đồng sanh ưu thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp ba đạo cao tuyệt trừ và sơ đạo cũng tuyệt trừ. - Chư pháp sơ đạo và ba đạo cao không tuyệt trừ ra sao? Thiện và dị thục quả trong 4 cõi, tâm vô ký tố trong 3 cõi sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp sơ đạo và ba đạo cao không tuyệt trừ. - Chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ ra sao? 4 thứ tâm tương ưng tà kiến, tâm đồng sanh với hoài nghi (trừ si hiệp với tâm si ấy). Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ.
- Chư pháp hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ ra sao?
Tâm đồng sanh với phóng dật (trừ si). Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ.
4 tâm tham bất tương ưng, 2 tâm sân đồng sanh với ưu thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu nhân sơ đạo tuyệt trừ cũng có, thành pháp hữu nhân ba đạo cao tuyệt trừ cũng có.
- Chư pháp phi hữu nhân sơ đạo và ba đạo cao tuyệt trừ trong khi có ra sao? Si đồng sanh với hoài nghi, si đồng sanh với phóng dật, thiện và dị thục quả trong 4 cõi, vô ký tố trong 3 cõi, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi hữu nhân sơ đạo và ba đạo cao tuyệt trừ.
- Chư pháp nhân sanh tử ra sao? Bất thiện và thiện trong 3 cõi. Những chơn tướng này gọi là chư pháp nhân sanh tử. - Chư pháp nhân đến níp-bàn ra sao? 4 đạo siêu thế. Những chơn tướng này gọi là chư pháp nhân đến níp-bàn.
- Chư pháp phi nhân sanh tử và phi nhân đến níp-bàn ra sao? Vô ký tố trong 3 cõi, dị thục quả trong 4 cõi, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi nhân sanh tử và phi nhân đến níp-bàn.
- Chư pháp hữu học trong khi có ra sao? 4 đạo và 3 quả siêu thế thông thường (thấp). Những chơn tướng này gọi là chư pháp hữu học.
- Chư pháp vô học ra sao? Quả cao tột và A-la-hán quả. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô học.
- Chư pháp phi hữu học phi vô học ra sao? Tâm bất thiện, thiện, vô ký tố và dị thục quả trong 3 cõi, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp phi hữu học phi vô học.
- Chư pháp hy thiểu trong khi có ra sao? Tâm bất thiện, thiện, dị thục quả, vô ký tố (kiriyā) trong cõi Dục giới và sắc pháp. Những chơn tướng này gọi là chư pháp hy thiểu (parittā dhammā).
- Chư pháp đáo đại trong khi có ra sao? Pháp thiện, pháp vô ký trong Sắc giới và Vô sắc giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp đáo đại (mahaggata dhammā).
- Chư pháp vô lượng trong khi có ra sao? 4 đạo, 4 quả siêu thế và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp vô lượng (appamaṇā dhammā). - Chư pháp biết cảnh hy thiểu ra sao? Tất cả tâm, dị thục quả Dục giới, tâm tố ý giới, tâm tố vô nhân và ý thức giới mà đồng sanh với hỷ thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh hy thiểu (parittarammana).
- Chư pháp biết cảnh đáo đại trong khi có ra sao? Tâm Thức vô biên xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh đáo đại (mahaggatārammaṇā dhammā).
- Chư pháp biết cảnh vô lượng trong khi có ra sao? 4 đạo và 4 quả siêu thế. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh vô lượng.
4 tâm thiện Dục giới bất tương ưng trí, 4 tâm tố (kiriyā) Dục giới bất tương ưng trí, tất cả tâm bất thiện. Những chơn tướng như này gọi là chư pháp biết cảnh hy thiểu cũng có, biết cảnh đáo đại cũng có, mà không biết cảnh vô lượng nên không thể nói biết cảnh hy thiểu hay biết cảnh đáo đại.
4 tâm thiện Dục giới tương ưng với trí, và 4 tâm tố Dục giới tương ưng với trí. Tứ thiền Sắc giới: Thiện và tố, tâm tố vô nhân ý thức giới đồng sanh với xả thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh hy thiểu cũng có, biết cảnh đáo đại cũng có, biết cảnh vô lượng cũng có, mà không thể nói biết cảnh hy thiểu, biết cảnh đáo đại và biết cảnh vô lượng. Thiền Sắc giới 3 hoặc 4 bậc: Thiện, dị thục quả và tố. Tứ thiền dị thục quả, tâm Không vô biên xứ và Vô sở hữu xứ. Những chơn tướng này không thể nói: Biết cảnh hy thiểu, biết cảnh đáo đại hay biết cảnh vô lượng.
Sắc pháp và níp-bàn đều là không biết cảnh.
- Chư pháp ty hạ trong khi có ra sao? 12 tâm bất thiện. Những chơn tướng này gọi là chư pháp ty hạ (hīnā dhammā).
- Chư pháp trung bình trong khi có ra sao? Tâm vô ký tố, thiện và dị thục quả trong 3 cõi, tất cả sắc pháp. Những chơn tướng này gọi là chư pháp trung bình (majjhimā dhammā).
- Chư pháp tinh lương trong khi có ra sao? 4 đạo, 4 quả siêu thế và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tinh lương. - Chư pháp tà cho quả nhứt định (đời sau liên tiếp) trong khi có ra sao? 4 tâm sanh tương ưng với tà kiến và 2 tâm đồng sanh với ưu thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp tà cho quả nhứt định (liên tiếp đời sau).
- Chư pháp chánh cho quả nhứt định (liên tiếp sát-na) trong khi có ra sao? 4 đạo siêu thế. Những chơn tướng này gọi là chư pháp chánh cho quả nhứt định (liên tiếp sát-na).
- Tất cả pháp bất định (ngoài ra 2 phần trên) ra sao? 4 tâm tham bất tương ưng, tâm đồng sanh với hoài nghi, tâm đồng sanh với phóng dật, tâm vô ký tố, thiện và dị thục quả trong 3 cõi, sắc pháp và níp-bàn. Những chơn tướng này gọi là chư pháp bất định
(ngoài 2 phần trên). 893. Chư pháp có đạo là cảnh ra sao?
4 tâm thiện, 4 tâm tố Dục giới hiện hành tương ưng với trí. Những chơn tướng này thành pháp có đạo là cảnh cũng có, chẳng phải pháp có đạo là nhân, cũng chẳng phải pháp có đạo là trưởng. Nên không trọn nói pháp có đạo là cảnh và cũng không trọn nói là pháp có đạo là trưởng.
4 Thánh đạo chẳng phải pháp có đạo là cảnh, cũng có phần gọi là pháp có đạo là nhân và pháp có đạo là trưởng, thời không nên quyết nói rằng pháp có đạo là trưởng.
Tứ thiền thiện và tâm tố Sắc giới, tâm tố vô nhân ý thức giới đồng sanh xả thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp có đạo là cảnh, có phần gọi chẳng phải pháp có đạo là nhân, và cũng có phần gọi chẳng phải pháp có đạo là trưởng, nên không quyết gọi là pháp có đạo là cảnh.
4 tâm thiện Dục giới hiện hành bất tương ưng trí, tất cả tâm bất thiện, tất cả tâm dị thục quả Dục giới, 6 tâm tố hiện hành Dục giới. Tam hoặc tứ thiền thiện, dị thục quả và tố. Tứ thiền quả Sắc giới. Tâm thiện, tâm dị thục quả và tâm tố trong 4 cõi Vô sắc giới và
4 tâm dị thục quả siêu thế. Những chơn tướng này không đặng gọi là chư pháp có đạo là cảnh, không đặng gọi là chư pháp có đạo là nhân, và cũng không đặng gọi là chư pháp có đạo là trưởng.
Còn sắc pháp và níp-bàn là pháp không biết cảnh. 894. Chư pháp sanh tồn trong khi có ra sao?
Tâm quả trong 4 cõi và sắc nghiệp tạo. Những chơn tướng này gọi là pháp sanh tồn cũng có, gọi là pháp sẽ sanh cũng có, nhưng không đặng gọi là pháp chưa sanh.
Tâm bất thiện và tâm thiện trong 4 cõi, tâm vô ký tố trong 3 cõi và sắc phi nghiệp. Những chơn tướng này gọi là pháp đã sanh cũng có, gọi là pháp chưa sanh cũng có, mà không đặng gọi là pháp sẽ sanh.
Còn níp-bàn không nên nói: Đã sanh, chưa sanh hay sẽ sanh. 895. Tất cả pháp trừ ra níp-bàn cũng thành quá khứ, cũng thành vị lai, cũng thành hiện tại.
Còn níp-bàn không đặng nói thành quá khứ, vị lai hay hiện tại.
- Chư pháp biết cảnh quá khứ là chi?
Tâm thức vô biên xứ và tâm Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh quá khứ.
Pháp biết cảnh vị lai không có, chỉ quyết phần nào.
- Chư pháp biết cảnh hiện tại ra sao? Ngũ song thức và 3 tâm ý giới. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh hiện tại.
10 tâm dị thục quả thiện hiện hành Dục giới, ý thức giới đồng sanh với xả thọ, tâm quả bất thiện, tâm tố ý thức giới vô nhân đồng sanh với hỷ thọ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp cũng biết cảnh quá khứ, cũng biết cảnh vị lai, cũng biết cảnh hiện tại.
Tâm bất thiện, tâm thiện Dục giới, 9 tâm tố hiện hành Dục giới, tâm tứ thiền Sắc giới thiện và tố. Những chơn tướng này cũng biết cảnh quá khứ, vị lai và hiện tại; mà không đặng nói là chư pháp biết cảnh quá khứ, chư pháp biết cảnh vị lai hay chư pháp biết cảnh hiện tại. Tam hoặc tứ thiền thiện, dị thục quả và tố Sắc giới luôn dị thục quả tứ thiền với tâm Không vô biên xứ, tâm Vô sở hữu xứ, bốn đạo và 4 quả siêu thế. Những chơn tướng này không đặng nói là chư pháp biết cảnh quá khứ, chư pháp biết cảnh vị lai, chư pháp biết cảnh hiện tại. Còn sắc pháp và níp-bàn thuộc về pháp vô tri (không biết cảnh).
897. Tất cả pháp trừ ra sắc pháp không liên hệ với quyền (indrīya) và trừ ra Níp bàn, ngoài ra đó thành pháp nội phần (ajjhattā dhammā) cũng có, thành pháp ngoại phần (bahiddhā dhammā) cũng có, thành pháp nội phần và ngoại phần (ajjhattabahidhā) cũng có.
Còn pháp không liên quan với quyền và níp-bàn đều thuộc về pháp ngoại phần.
- Chư pháp biết cảnh nội phần ra sao? Tức là tâm Thức vô biên xứ và tâm Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh nội phần (ajjhattārammaṇādhammā).
- Chư pháp biết cảnh ngoại phần ra sao? Tam hoặc tứ thiền: Thiện, dị thục quả và tố cõi Sắc giới. Tứ thiền dị thục quả cõi Sắc giới, tâm Không vô biên, bốn đạo và 4 quả siêu thế. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh ngoại phần.
Tất cả pháp thiện, pháp bất thiện, pháp vô ký tố hiện hành cõi Dục giới, tâm tố và thiện tứ thiền Sắc giới trừ ra sắc pháp. Những chơn tướng này gọi là chư pháp biết cảnh nội phần cũng có, biết cảnh ngoại phần cũng có, biết cảnh nội và ngoại phần cũng có. Tâm Vô sở hữu xứ không thể nói biết cảnh nội phần, ngoại phần hay nội và ngoại phần.
Còn sắc pháp và níp-bàn đều thuộc về pháp không biết cảnh.
- Chư pháp bị thấy và đối chiếu ra sao? Chỉ có sắc xứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp bị thấy và đối chiếu. - Chư pháp không bị thấy mà đối chiếu ra sao? Nhãn xứ… xúc xứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp không bị thấy mà đối chiếu.
- Chư pháp không bị thấy và không đối chiếu ra sao? Tâm bất thiện, tâm thiện và tâm dị thục quả trong 4 cõi. Tâm vô ký tố trong 3 cõi và sắc không thấy không đối chiếu mà liên hệ trong pháp xứ. Những chơn tướng này gọi là chư pháp không bị thấy và không đối chiếu. Dứt phần trích yếu đầu đề tam.
––––