☸Kinh Tạng Pali
Kinh TạngLuật TạngLuận TạngCông CụLịch SửPhá Tà Kiến
Kinh TạngLuật TạngLuận TạngCông CụLịch SửPhá Tà Kiến
☸ Kinh Tạng Pali

Tra cứu Tam Tạng Pali theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy Theravāda.

Tam Tạng

  • Kinh Tạng
  • Luật Tạng
  • Luận Tạng

Công Cụ

  • Từ Điển Pali
  • Tìm Kinh
  • Tu Tập Mỗi Ngày

Nguồn

  • SuttaCentral
  • Phá Tà Kiến

Sabbe dhammā nālaṃ abhinivesāya

Nội dung dựa trên Tam Tạng Pali · Bản dịch: HT. Thích Minh Châu · Dữ liệu: SuttaCentral (CC0)

Trang ChủKinh TạngCông CụTìm kiếm

Tập Yếu

Parivāra

51 chương

  • 1. PHẦN QUY ĐỊNH TẠI ĐÂU:
  • 10. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:
  • 11. PHẦN SỰ HƯ HỎNG:
  • 12. PHẦN ĐƯỢC TỔNG HỢP:
  • 13. PHẦN NGUỒN SANH TỘI:
  • 14. PHẦN SỰ TRANH TỤNG:
  • 15. PHẦN DÀN XẾP:
  • 16. PHẦN SỰ QUY TỤ:
  • 2. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:
  • 3. PHẦN SỰ HƯ HỎNG:
  • 4. PHẦN ĐƯỢC TỔNG HỢP:
  • 5. PHẦN NGUỒN SANH TỘI:
  • 6. PHẦN SỰ TRANH TỤNG:
  • 7. PHẦN DÀN XẾP:
  • 8. PHẦN SỰ QUY TỤ:
  • 9. PHẦN QUY ĐỊNH TẠI ĐÂU:
  • SƯU TẬP VỀ CÁC BÀI KỆ:
  • PHÂN TÍCH SỰ TRANH TỤNG:
  • SƯU TẬP KHÁC VỀ CÁC BÀI KỆ:
  • CHƯƠNG CÁO TỘI:
  • XUNG ĐỘT (PHẦN PHỤ):
  • XUNG ĐỘT (PHẦN CHÍNH):
  • PHÂN TÍCH KAṬHINA:
  • NHÓM NĂM VỀ UPĀLI:
  • NGUỒN SANH KHỞI:
  • SƯU TẬP VỀ CÁC BÀI KỆ—PHẦN HAI:
  • 1. PHẦN QUY ĐỊNH TẠI ĐÂU:
  • 10. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:
  • 11. PHẦN SỰ HƯ HỎNG:
  • 12. PHẦN SỰ TỔNG HỢP:
  • 13. PHẦN NGUỒN SANH TỘI:
  • 14. PHẦN SỰ TRANH TỤNG:
  • 15. PHẦN SỰ DÀN XẾP:
  • 16. PHẦN SỰ QUY TỤ:
  • 2. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:
  • 3. PHẦN SỰ HƯ HỎNG:
  • 4. PHẦN SỰ TỔNG HỢP:
  • 5. PHẦN NGUỒN SANH TỘI:
  • 6. PHẦN SỰ TRANH TỤNG:
  • 7. PHẦN SỰ DÀN XẾP:
  • 8. PHẦN SỰ QUY TỤ:
  • 9. PHẦN QUY ĐỊNH TẠI ĐÂU:
  • CÁC BÀI KỆ LÀM XUẤT MỒ HÔI:
  • NĂM PHẨM:
  • TÓM TẮT CÁC ĐẦU ĐỀ CỦA NGUỒN SANH TỘI:
  • SỰ TRÙNG LẶP LIÊN TỤC:
  • PHÂN TÍCH CÁCH DÀN XẾP:
  • CÁC CÂU HỎI VỀ BỘ HỢP PHẦN:
  • TĂNG THEO TỪNG BẬC:
  • CÁC CÂU VẤN ĐÁP VỀ LỄ UPOSATHA, v.v...:
  • LỜI GIẢI THÍCH VỀ ĐIỀU LỢI ÍCH:
Luật Tạng›Tập Yếu›10. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:

10. PHẦN BAO NHIÊU TỘI:

Dịch: Bhikkhu Indacanda

1. CHƯƠNG PĀRĀJIKA:

Do duyên của việc ưng thuận sự xúc chạm thân thể vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc ưng thuận sự xúc chạm thân thể vi phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng ưng thuận sự nắm lấy từ xương đòn (ở cổ) trở xuống từ đầu gối trở lên của người nam nhiễm dục vọng phạm tội pārājika; vị tỳ khưu sờ vào thân (người nữ) bằng thân (vị ấy) phạm tội saṅghādisesa; vị (ni) dùng thân sờ vào vật được gắn liền với thân (người nam) phạm thullaccaya; vị (ni) dùng vật được gắn liền với thân sờ vào vật được gắn liền với thân (người nam) phạm tội dukkaṭa; khi thọc lét bằng ngón tay phạm tội pācittiya. Do duyên của việc ưng thuận sự xúc chạm thân thể vi phạm năm tội này.

Do duyên của việc che giấu lỗi lầm vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc che giấu lỗi lầm vi phạm bốn tội: Vị tỳ khưu ni biết (vị tỳ khưu ni khác) vi phạm tội pārājika rồi che giấu phạm tội pārājika; vị (ni) có sự hoài nghi rồi che giấu phạm tội thullaccaya; vị tỳ khưu che giấu tội saṅghādisesa phạm tội pācittiya; vị (ni) che giấu sự hư hỏng về hạnh kiểm phạm tội dukkaṭa. Do duyên của việc che giấu lỗi lầm vi phạm bốn tội này.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm năm tội: Vị tỳ khưu ni là người xu hướng theo kẻ bị phạt án treo không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, do lời đề nghị phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự phạm tội pārājika; vị tỳ khưu ni là người xu hướng theo kẻ chia rẽ (hội chúng) không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội saṅghādisesa; vị không chịu dứt bỏ tà kiến ác với sự nhắc nhở đến lần thứ ba phạm tội pācittiya. Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba vi phạm năm tội này.

Do duyên của việc làm đầy đủ sự việc thứ tám vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc làm đầy đủ sự việc thứ tám vi phạm ba tội: Khi được người nam nói rằng: ‘Hãy đi đến chỗ tên như vầy,’ vị ni đi đến (nơi hẹn) phạm tội dukkaṭa; khi đã vào ở trong tầm tay của người nam, phạm tội thullaccaya; vị ni làm đầy đủ sự việc thứ tám phạm tội pārājika. Do duyên của việc làm đầy đủ sự việc thứ tám vi phạm ba tội này.

Dứt các điều pārājika.

2. CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA:

Do duyên của việc thực hiện sự thưa kiện, vị tỳ khưu ni là người nói lời tranh chấp vi phạm ba tội: Nói với người thứ nhất phạm tội dukkaṭa; nói với người thứ nhì phạm tội thullaccaya; vào lúc kết thúc vụ xử án, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc tiếp độ nữ đạo tặc vi phạm ba tội: Do lời đề nghị, phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự, phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc đi vào trong làng một mình vi phạm ba tội: Vị ni đi, phạm tội dukkaṭa; vượt qua hàng rào bước thứ nhất, phạm tội thullaccaya; vượt qua bước thứ nhì, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc phục hồi cho vị tỳ khưu ni đã bị hội chúng hợp nhất phạt án treo theo Pháp theo Luật theo lời dạy của bậc Đạo Sư, khi chưa xin phép hội chúng thực hiện hành sự và không quan tâm đến ước muốn của nhóm vi phạm ba tội: Do lời đề nghị, phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự, phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc thọ thực, vị tỳ khưu ni nhiễm dục vọng sau khi tự tay thọ nhận vật thực cứng hoặc vật thực mềm từ tay của người nam nhiễm dục vọng vi phạm ba tội: Vị ni (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn’ rồi thọ nhận phạm tội thullaccaya; mỗi một lần nuốt xuống, phạm tội saṅghādisesa; vị ni thọ nhận nước và tăm xỉa răng phạm tội dukkaṭa.

Do duyên của việc xúi giục rằng: ‘Này ni sư, người đàn ông ấy nhiễm dục vọng hay không nhiễm dục vọng thì sẽ làm gì ni sư khi ni sư không nhiễm dục vọng? Này ni sư, người đàn ông ấy dâng vật thực cứng hoặc vật thực mềm nào đến ni sư, ni sư cứ tự tay thọ nhận vật ấy rồi nhai hoặc ăn đi’ vi phạm ba tội: Do lời nói của vị ni ấy, vị ni kia (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn’ rồi thọ nhận, (vị ni xúi giục) phạm tội dukkaṭa; mỗi một lần (vị ni kia) nuốt xuống, (vị ni xúi giục) phạm tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt bữa ăn, (vị ni xúi giục) phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu ni nổi giận vi phạm ba tội: Do lời đề nghị, phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự, phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Khi bị xử thua trong cuộc tranh tụng nào đó, do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị tỳ khưu ni vi phạm ba tội: Do lời đề nghị, phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự, phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, các tỳ khưu ni thân cận (với thế tục) vi phạm ba tội: Do lời đề nghị, phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự, phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa.

Do duyên của việc không chịu dứt bỏ với sự nhắc nhở đến lần thứ ba, vị ni xúi giục rằng: ‘Này các ni sư, các vị hãy sống thân cận, các vị chớ có sống cách khác’ vi phạm ba tội: Do lời đề nghị, phạm tội dukkaṭa; do hai lời tuyên ngôn của hành sự, phạm các tội thullaccaya; vào lúc chấm dứt tuyên ngôn hành sự, phạm tội saṅghādisesa. … (như trên) …

Dứt mười điều saṅghādisesa.

Nên được phân tích chi tiết theo như phần dưới, riêng phần nguyên nhân là có sự khác biệt.

Do duyên của việc thọ dụng sữa đông sau khi đã yêu cầu vi phạm bao nhiêu tội? – Do duyên của việc thọ dụng sữa đông sau khi đã yêu cầu vi phạm hai tội: Vị ni (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ nhai, ta sẽ ăn’ rồi nhận lãnh phạm tội dukkaṭa; mỗi một lần nuốt xuống, phạm tội pāṭidesanīya. Do duyên của việc thọ dụng sữa đông sau khi đã yêu cầu vi phạm hai tội này.

Dứt phần Bao Nhiêu Tội là thứ nhì.