Ngũ uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
1) Sắc uẩn Sắc uẩn đó ra sao? Mỗi thứ sắc nào như là quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, sắc thô, sắc tế, sắc tốt, sắc xấu, sắc gần hoặc sắc xa gồm chung lại một cho dón gọn. Đây gọi là sắc uẩn. Sắc quá khứ đó ra sao? Những sắc nào đã diệt, đã mất, đã qua, xa lìa rồi, đã biến chuyển, vắng bặt, đã mất hết, đã sanh ra rồi diệt mất, gồm chung lại một thành phần quá khứ tức là sắc tứ đại sung và sắc y sinh nương tứ đại. Đây gọi là sắc quá khứ. - Sắc vị lai đó ra sao? Những sắc nào sau này sinh, sẽ sanh, sẽ phát ra đủ, chưa sanh đầy, sẽ hiện bày, chưa phát ra, chưa sanh trụ, sẽ sanh trụ, sau nữa mới phát ra đầy đủ, đều thuộc về vị lai nên gồm chung lại thành phần vị lai tức là sắc tứ đại sung và sắc y sinh nương tứ đại. Đây gọi là sắc vị lai.
- Sắc hiện tại đó ra sao? Những sắc nào đang có, đang còn, vừa sanh, đang đầy đủ, đang trụ, đã vững vàng, chưa diệt mất, hiện có đồng đều, hoàn toàn đầy đủ, hiện mỹ mãn trọn thành, thuộc về hiện tại, nên gồm chung lại sắp thành phần hiện tại tức là sắc tứ đại sung và sắc y sinh nương tứ đại. Đây gọi là sắc hiện tại. - Sắc bên trong đó ra sao? Những sắc nào tự phần của riêng mỗi chúng sanh, trong mình, trong thân ta, trong mình ta, trong phần thân thể con người của ta do nghiệp liên quan ái kiến chấp trước, tức là sắc tứ đại sung và sắc y sinh nương sắc tứ đại. Đây gọi là sắc bên trong. Sắc bên ngoài đó ra sao? Những sắc nào ngoài ra thân thể ta mà có ra cho tha nhân, phần của tha nhơn, sanh theo tha nhơn, thuộc về phần tha nhơn mà liên quan với nghiệp ái kiến, tức là sắc tứ đại sung và sắc y sinh nương sắc tứ đại. Đây gọi là sắc bên ngoài.
Sắc thô đó ra sao? Như là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ và xúc xứ. Đây gọi là sắc thô.
Sắc tế đó ra sao? Như là nữ quyền, nam quyền, mạng quyền, thân biểu tri, khẩu biểu tri, hư không chất, sắc nhẹ, sắc mềm, sắc thích dụng, sắc sinh (upacaya), sắc thừa kế (santati), sắc lão (jarata), sắc vô thường (aniccata) và đoàn thực. Đây gọi là sắc tế. Sắc xấu đó ra sao? Những sắc nào đối với chúng sanh đều coi rẻ, đáng gớm, đáng chê, đáng ghê gớm, không thích, không đáng ưa, không đáng ham muốn, xấu xa, ai cũng biết là xấu xa, đều cho rằng xấu xa như là sắc, thinh, khí, vị, xúc (không ưa). Như thế gọi là sắc xấu.
Sắc tốt đó ra sao? Những sắc nào chúng sanh không coi rẻ, không chê, không gớm, chẳng ghê ghét, đáng ưa, đáng thích, đáng ham, tốt, biết rằng tốt, đều cho là tốt như là sắc, thinh, khí, vị, xúc (đáng ưa). Như thế gọi là sắc tốt. Hay là những sắc tốt xấu do so sánh với sắc khác… Sắc viễn đó ra sao? Nữ quyền… đoàn thực. Hoặc có sắc nào khác ở xa, phi cận, chẳng gần sát. Sắc nào như thế đây gọi là sắc viễn. Sắc cận đó ra sao? Nhãn xứ… xúc xứ. Hoặc có sắc nào khác ở gần, ở sát, dựa kế, không xa. Sắc nào như thế đây gọi là sắc cận. Hay là nên biết sắc gần, xa do sự so sánh đối với nó.
2) Thọ uẩn Thọ uẩn đó ra sao? Mỗi thọ nào như là quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa gồm chung cho gọn thành nhóm, như thế gọi là thọ uẩn. Thọ quá khứ đó ra sao? Những thọ nào đã diệt, đã mất, đã qua, xa lìa rồi, đã biến chuyển, vắng bặt, đã mất hết, đã sanh ra rồi diệt mất, gồm chung lại một thành phần quá khứ, tức là lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Đây gọi là thọ quá khứ.
Thọ vị lai đó ra sao? Những thọ nào sau này sinh, sẽ sanh, sẽ phát ra đủ, chưa sanh đầy, sẽ hiện bày, chưa phát ra, chưa sanh trụ, sẽ sanh trụ, sau nữa mới phát ra đầy đủ, đều thuộc vị lai nên gồm chung lại thành phần vị lai tức là khổ thọ, lạc thọ, phi khổ phi lạc thọ. Đây gọi là thọ vị lai.
Thọ hiện tại đó ra sao? Những thọ nào đang có, đang còn, vừa sanh, đang đầy đủ, đang trụ, vững vàng rồi, chưa diệt mất, hiện có đồng đều, hoàn toàn đầy đủ, hiện mỹ mãn trọn thành, thuộc về hiện tại, nên gồm chung lại thuộc về phần hiện tại tức là lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Đây gọi là thọ hiện tại. Thọ bên trong đó ra sao? Những thọ nào tự nội riêng của mỗi chúng sanh, trong mình, trong thân ta, trong mình ta, trong phần thân thể con người của ta do nghiệp liên quan ái kiến chấp trước tức là lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Đây gọi là thọ bên trong.
Thọ bên ngoài đó ra sao? Những thọ nào ngoài ra thân thể ta có ra cho tha nhơn, phần của tha nhơn, sanh theo tha nhơn, thuộc về phần của tha nhơn mà liên hệ với nghiệp do ái kiến tức là lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ. Đây gọi là thọ bên ngoài. Thọ thô và thọ tế đó ra sao? - Thọ bất thiện là thọ thô. Thọ thiện và thọ vô ký là thọ tế. - Thọ thiện và thọ bất thiện là thọ thô. Thọ vô ký là thọ tế. - Khổ thọ là thọ thô. Lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là thọ tế. - Lạc thọ và khổ thọ là thọ thô. Phi khổ phi lạc thọ là thọ tế. - Thọ của người không nhập thiền là thọ thô. Thọ của bực nhập thiền là thọ tế. - Thọ hưởng cảnh lậu là thọ thô. Thọ hưởng cảnh phi lậu là thọ tế.
Hoặc nên biết thọ thô, thọ tế là do so sánh mỗi bực thọ với thọ. Thọ xấu và thọ tốt đó ra sao?
- Thọ bất thiện là thọ xấu. Thọ thiện và thọ vô ký là thọ tốt. - Thọ thiện và thọ bất thiện là thọ xấu. Thọ vô ký là thọ tốt. - Khổ thọ là thọ xấu. Lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là thọ tốt. - Lạc thọ và khổ thọ là thọ xấu. Phi khổ phi lạc thọ là thọ tốt. - Thọ của người không nhập thiền là thọ xấu. Thọ của bậc nhập thiền là thọ tốt. - Thọ hưởng cảnh lậu là thọ xấu. Thọ hưởng phi cảnh lậu là thọ tốt.
Hoặc nên biết thọ xấu, thọ tốt bằng cách so sánh mỗi bực thọ với thọ. Thọ viễn đó ra sao? - Thọ bất thiện xa lìa thọ thiện và thọ vô ký.
- Thọ thiện và thọ vô ký xa lìa thọ bất thiện. - Thọ thiện là thọ xa lìa thọ bất thiện và thọ vô ký. - Thọ bất thiện và thọ vô ký là thọ xa lìa với thọ thiện. - Thọ vô ký là thọ xa lìa với thọ thiện và thọ bất thiện. - Thọ thiện và thọ bất thiện là thọ xa lìa thọ vô ký. - Khổ thọ là thọ xa lìa lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là thọ xa lìa khổ thọ.
- Lạc thọ là thọ xa lìa khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ là thọ xa lìa lạc thọ. - Phi khổ phi lạc thọ là thọ xa lìa lạc thọ và khổ thọ. - Lạc thọ và khổ thọ là thọ xa lìa phi khổ phi lạc thọ. - Thọ của người không nhập thiền là thọ xa lìa thọ của bực nhập thiền. - Thọ của bực nhập thiền là thọ xa lìa thọ của người không nhập thiền.
- Thọ mà thành cảnh của lậu là thọ xa lìa thọ mà không thành cảnh của lậu. - Thọ không thành cảnh của lậu là thọ xa lìa thọ mà thành cảnh của lậu. Đây gọi là thọ viễn.
Thọ cận đó ra sao? - Thọ bất thiện là thọ gần với thọ bất thiện. - Thọ thiện là thọ gần với thọ thiện. - Thọ vô ký là thọ gần với thọ vô ký.
- Khổ thọ là thọ gần với khổ thọ.
- Lạc thọ là thọ gần với lạc thọ. - Phi khổ phi lạc thọ là thọ gần với phi khổ phi lạc thọ. - Thọ của người không nhập thiền là thọ gần với thọ của người không nhập thiền. - Thọ của bực nhập thiền là thọ gần với thọ của bực nhập thiền. - Thọ mà thành cảnh của lậu là thọ gần với thọ thành cảnh của lậu.
- Thọ mà không thành cảnh của lậu là thọ gần với thọ không thành cảnh của lậu. Đây gọi là thọ cận. Hoặc nên biết thọ gần, thọ xa là do theo sự so sánh mỗi bực mỗi thọ.
3) Tưởng uẩn
Tưởng uẩn đó ra sao? Mỗi tưởng nào như là quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, tưởng thô, tưởng tế, tưởng tốt, tưởng xấu, tưởng gần, tưởng xa gồm chung lại một cho dón gọn. Đây gọi là tưởng uẩn. Tưởng quá khứ đó ra sao? Những tưởng nào đã diệt, đã mất, đã qua, xa lìa rồi, đã biến chuyển, vắng bặt, đã mất hết, đã sanh ra rồi diệt mất, gồm chung lại một thành phần quá khứ như là tưởng nhãn xúc, tưởng nhĩ xúc, tưởng tỷ xúc, tưởng thiệt xúc, tưởng thân xúc, tưởng ý xúc, thuộc tưởng quá khứ, yếu hiệp trong phần quá khứ. Tưởng vị lai đó ra sao? Những tưởng nào sau này sinh, sẽ sanh, sẽ phát ra đủ, chưa sanh đầy, sẽ hiện bày, chưa phát ra, chưa sanh trụ, sẽ sanh trụ, sau sẽ phát ra đầy đủ, như là tưởng nhãn xúc… tưởng ý xúc, thuộc về vị lai, yếu hiệp trong phần vị lai. Tưởng hiện tại đó ra sao? Những tưởng nào đang có, đang còn, vừa sanh, đang đầy đủ, đang trụ, đã vững vàng, chưa diệt mất, hiện có đồng đều, hoàn toàn đầy đủ, hiện mỹ mãn trọn thành, thuộc về hiện tại, yếu hiệp thành phần hiện tại. Tưởng bên trong đó ra sao? Những tưởng nào trong tự phần của mỗi chúng sanh, trong mình, trong thân ta, trong mình ta, trong phần thân thể con người của ta do nghiệp liên quan ái kiến chấp trước như là tưởng nhãn xúc… tưởng ý xúc. Đây gọi là tưởng bên trong. Tưởng bên ngoài đó ra sao? Những tưởng nào sanh cho tha nhơn ngoài ra tâm ta, phần của tha nhơn, sanh theo tha nhơn, thuộc về phần của tha nhơn mà liên hệ với nghiệp do ái kiến chấp trước như là tưởng nhãn xúc… tưởng ý xúc. Như thế gọi là tưởng bên ngoài. Tưởng thô và tưởng tế đó ra sao? - Tưởng mà sanh từ nơi xúc phẫn nhuế (tức là tưởng sanh từ ngũ môn) là tưởng thô. Tưởng mà sanh từ xúc vô phóng dật (là tưởng sanh từ ý môn) là tưởng tế.
- Tưởng bất thiện là tưởng thô. Tưởng thiện và tưởng vô ký là tưởng tế. - Tưởng thiện và tưởng bất thiện là tưởng thô. Tưởng vô ký là tưởng tế. - Tưởng tương ưng khổ thọ là tưởng thô. Tưởng tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là tưởng tế. - Tưởng tương ưng lạc thọ và khổ thọ là tưởng thô. Tưởng tương ưng phi khổ phi lạc thọ là tưởng tế.
- Tưởng của người không nhập thiền là tưởng thô. Tưởng của bực nhập thiền là tưởng tế. - Tưởng mà thành cảnh của lậu là tưởng thô. Tưởng không thành cảnh của lậu là tưởng tế.
Hoặc nên biết tưởng thô và tưởng tế bằng cách so sánh mỗi bực mỗi cách tưởng. Tưởng xấu và tưởng tốt đó ra sao? - Tưởng bất thiện là tưởng xấu. Tưởng thiện và tưởng vô ký là tưởng tốt.
- Tưởng thiện và tưởng bất thiện là tưởng xấu. Tưởng vô ký là tưởng tốt. - Tưởng tương ưng khổ thọ là tưởng xấu. Tưởng tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là tưởng tốt. - Tưởng tương ưng lạc thọ và khổ thọ là tưởng xấu. Tưởng tương ưng phi khổ phi lạc thọ là tưởng tốt. - Tưởng của người không nhập thiền là tưởng xấu. Tưởng của bực nhập thiền là tưởng tốt.
- Tưởng mà thành cảnh của lậu là tưởng xấu. Tưởng không thành cảnh của lậu là tưởng tốt. Cũng nên biết tưởng tốt, tưởng xấu bằng cách so sánh mỗi bực mỗi tưởng. Tưởng viễn đó ra sao? - Tưởng bất thiện là tưởng viễn ly tưởng thiện và tưởng vô ký. - Tưởng thiện và tưởng vô ký là tưởng viễn ly tưởng bất thiện. - Tưởng thiện là tưởng viễn ly tưởng bất thiện và tưởng vô ký. - Tưởng bất thiện và tưởng vô ký là tưởng viễn ly tưởng thiện. - Tưởng vô ký là tưởng viễn ly tưởng thiện và tưởng bất thiện.
- Tưởng thiện và tưởng bất thiện là tưởng viễn ly tưởng vô ký. - Tưởng mà tương ưng với khổ thọ là tưởng viễn ly với tưởng tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Tưởng mà tương ưng với lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là tưởng viễn ly với tưởng tương ưng khổ thọ. - Tưởng mà tương ưng với lạc thọ là tưởng viễn ly với tưởng tương ưng khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Tưởng mà tương ưng với khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ là tưởng viễn ly với tưởng tương ưng lạc thọ. - Tưởng mà tương ưng với phi khổ phi lạc thọ là tưởng viễn ly với tưởng tương ưng lạc thọ và khổ thọ. - Tưởng mà tương ưng với lạc thọ và khổ thọ là tưởng viễn ly với tưởng tương ưng phi khổ phi lạc thọ.
- Tưởng của người không nhập thiền là tưởng viễn ly với tưởng của bực nhập thiền. - Tưởng của bực nhập thiền là tưởng viễn ly với tưởng của người không nhập thiền. - Tưởng mà thành cảnh của lậu là tưởng viễn ly với tưởng không thành cảnh của lậu. - Tưởng mà không thành cảnh của lậu là tưởng viễn ly với tưởng thành cảnh của lậu.
Đây gọi là tưởng viễn. Tưởng cận đó ra sao? - Tưởng bất thiện là tưởng gần với tưởng bất thiện.
- Tưởng thiện là tưởng gần với tưởng thiện. - Tưởng vô ký là tưởng gần với tưởng vô ký. - Tưởng tương ưng khổ thọ là tưởng gần với tưởng tương ưng khổ thọ. - Tưởng tương ưng lạc thọ là tưởng gần với tưởng tương ưng lạc thọ. - Tưởng tương ưng phi khổ phi lạc thọ là tưởng gần với tưởng tương ưng phi khổ phi lạc thọ. - Tưởng của người không nhập thiền là tưởng gần với tưởng của người không nhập thiền. - Tưởng của bực nhập thiền là tưởng gần với tưởng của bực nhập thiền. - Tưởng mà thành cảnh của lậu là tưởng gần với tưởng thành cảnh của lậu. - Tưởng mà không thành cảnh của lậu là tưởng gần với tưởng không thành cảnh của lậu.
Đây gọi là tưởng cận. Hoặc nên biết tưởng cận, tưởng viễn là do nương theo sự so sánh mỗi bực mỗi tưởng.
4) Hành uẩn
Hành uẩn trong khi đó ra sao? Mỗi hành nào là quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa, thuộc về hành, gồm chung lại một theo phần hành. Đây gọi là hành uẩn. Hành quá khứ đó ra sao? Những hành nào đã diệt, đã mất, đã qua, xa lìa rồi, đã biến chuyển, vắng bặt, đã mất hết, đã sanh ra rồi diệt mất, gồm chung lại một thành phần quá khứ, tư nhãn xúc, tư nhĩ xúc, tư tỷ xúc, tư thiệt xúc, tư thân xúc, tư ý xúc. Đây gọi là hành quá khứ.
Hành vị lai đó ra sao? Những hành nào sau này sinh, sẽ sanh, sẽ phát ra đủ, chưa sanh đầy, sẽ hiện bày, chưa phát ra, chưa sanh trụ, sẽ sanh trụ, sau sẽ phát ra đầy đủ như là tư nhãn xúc… tư ý xúc. Đây gọi là hành vị lai.
Hành hiện tại đó ra sao? Những hành nào đang có, đang còn, vừa sanh, đang đầy đủ, đang trụ, đã vững vàng, chưa diệt mất, hiện có đồng đều, hoàn toàn đầy đủ, hiện mỹ mãn trọn thành, thuộc về hiện tại nên gồm chung lại sắp thành phần hiện tại. Đây gọi là hành hiện tại. Hành bên trong đó ra sao? Hành nào mà của tự mỗi chúng sanh có ra cho ta, phần ta, sanh trong ta, riêng phần người mà thủ chấp trước như là tư nhãn xúc… tư ý xúc. Đây gọi là hành bên trong. Hành bên ngoài đó ra sao? Những hành nào là của mỗi chúng sanh, riêng người khác, về phần của người, chấp trước phần ta, sanh trong ta, có cho ta như là tư nhãn xúc… tư ý xúc. Đây gọi là hành bên ngoài. Hành thô và hành tế đó ra sao? - Hành bất thiện là hành thô. Hành thiện và hành vô ký là hành tế.
- Hành thiện và hành bất thiện là hành thô. Hành vô ký là hành tế. - Hành tương ưng khổ thọ là hành thô. Hành tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là hành tế. - Hành tương ưng với lạc thọ và khổ thọ là hành thô. Hành tương ưng với phi khổ phi lạc thọ là hành tế.
- Hành của người không nhập thiền là hành thô. Hành của bực nhập thiền là hành tế. - Hành mà thành cảnh của lậu là hành thô. Hành không thành cảnh của lậu là hành tế. Hoặc nên biết hành thô và hành tế do nương theo so sánh mỗi hành và mỗi bực. Hành xấu và hành tốt đó ra sao? - Hành bất thiện là hành xấu. Hành thiện và hành vô ký là hành tốt. - Hành thiện và hành bất thiện là hành xấu. Hành vô ký là hành tốt. - Hành mà tương ưng với khổ thọ là hành xấu. Hành tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là hành tốt. - Hành tương ưng với lạc thọ và khổ thọ là hành xấu. Hành tương ưng với phi khổ phi lạc thọ là hành tốt. - Hành của người không nhập thiền là hành xấu. Hành của bực nhập thiền là hành tốt. - Hành mà thành cảnh của lậu là hành xấu. Hành không thành cảnh của lậu là hành tốt. Hoặc nên biết hành xấu và hành tốt do nương theo sự so sánh mỗi hành mỗi bực. Hành viễn đó ra sao? - Hành bất thiện là hành viễn ly với hành thiện và hành vô ký. - Hành thiện và hành vô ký là hành viễn ly với hành bất thiện. - Hành thiện là hành viễn ly với hành bất thiện và hành vô ký. - Hành bất thiện và hành vô ký là hành viễn ly với hành thiện. - Hành vô ký là hành viễn ly với hành thiện và hành bất thiện. - Hành thiện và hành bất thiện là hành viễn ly với hành vô ký.
- Hành tương ưng khổ thọ là hành viễn ly với hành tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Hành tương ưng với lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là hành viễn ly với hành tương ưng khổ thọ. - Hành tương ưng lạc thọ là hành viễn ly với hành tương ưng khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Hành tương ưng khổ thọ và hành tương ung phi khổ phi lạc thọ là hành viễn ly với hành tương ưng lạc thọ. - Hành tương ưng với phi khổ phi lạc thọ là hành viễn ly với hành tương ưng lạc thọ và khổ thọ. - Hành tương ưng với lạc thọ và khổ thọ là hành viễn ly với hành tương ưng phi khổ phi lạc thọ. - Hành của người không nhập thiền là hành viễn ly với hành của bực nhập thiền.
- Hành của bực nhập thiền là hành viễn ly với hành của người không nhập thiền. - Hành mà thành cảnh của lậu là hành viễn ly với hành không thành cảnh của lậu. - Hành không thành cảnh của lậu là hành viễn ly với hành mà thành cảnh của lậu. Đây gọi là hành viễn.
Hành cận đó ra sao?
- Hành bất thiện là hành cận với hành bất thiện. - Hành thiện là hành cận với hành thiện. - Hành vô ký là hành cận với hành vô ký. - Hành tương ưng khổ thọ là hành cận với hành tương ưng khổ thọ. - Hành tương ưng lạc thọ là hành cận với hành tương ưng lạc thọ.
- Hành tương ưng phi khổ phi lạc thọ là hành cận với hành tương ưng phi khổ phi lạc thọ. - Hành của người không nhập thiền là hành cận với hành của người không nhập thiền. - Hành của bực nhập thiền là hành cận với hành của bực nhập thiền. - Hành mà thành cảnh của lậu là hành cận với hành thành cảnh của lậu. - Hành không thành cảnh của lậu là hành cận với hành không thành cảnh của lậu.
Đây gọi là hành cận. Hoặc nên biết hành viễn, hành cận là do nương so sánh mỗi hành và mỗi bực.
5) Thức uẩn Thức uẩn đó ra sao? Mỗi thức nào là quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, hoặc thô, hoặc tế, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc gần, hoặc xa, dón gọn lại chung thành một gọi là thức uẩn.
Thức quá khứ đó ra sao? Thức nào đã diệt, đã mất, đã qua, xa lìa rồi, đã biến chuyển, vắng bặt, đã mất hết, đã sanh ra rồi diệt mất, thuộc về quá khứ, yếu hiệp thành phần quá khứ, như là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Đây gọi là thức quá khứ.
Thức vị lai đó ra sao? Thức nào sau này sinh, sẽ sanh, sẽ phát ra đủ, chưa sanh đầy, sẽ hiện bày, chưa phát ra, chưa sanh trụ, sẽ sanh trụ, sau sẽ phát ra đầy đủ, thuộc về vị lai, yếu hiệp thành phần vị lai như là nhãn thức… ý thức. Đây gọi là thức vị lai.
Thức hiện tại đó ra sao? Thức nào đang có, đang còn, vừa sanh, đang đầy đủ, đang trụ, đã vững vàng, chưa diệt mất, hiện có đồng đều, hoàn toàn đầy đủ, hiện mỹ mãn trọn thành, thuộc về hiện tại, yếu hiệp thành phần hiện tại như là nhãn thức… ý thức. Đây gọi là thức hiện tại.
Thức bên trong đó ra sao? Thức nào riêng của mỗi chúng sanh chấp trước như là có nơi mình, phần mình, sanh trong mình, phần của mỗi người, nhân riêng của mỗi người như là nhãn thức… ý thức. Đây gọi là thức bên trong.
Thức bên ngoài đó ra sao? Thức nào mà của chúng sanh khác thuộc phần tha nhơn, riêng chấp tự phần trong người của tha nhơn, sanh cho tha nhơn, có cho tha nhơn, riêng về phần tha nhơn như là nhãn thức… ý thức. Đây gọi là thức bên ngoài. Thức thô và thức tế đó ra sao?
- Thức bất thiện là thức thô. Thức thiện và thức vô ký là thức tế. - Thức thiện và thức bất thiện là thức thô. Thức vô ký là thức tế. - Thức tương ưng khổ thọ là thức thô. Thức tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là thức tế.
- Thức tương ưng lạc thọ và khổ thọ là thức thô. Thức tương ưng phi khổ phi lạc thọ là thức tế. - Thức của người không nhập thiền là thức thô. Thức của bực nhập thiền là thức tế. - Thức mà thành cảnh của lậu là thức thô. Thức không thành cảnh của lậu là thức tế.
Hoặc nên biết thức thô và thức tế là do nương theo cách so sánh mỗi thức và mỗi bực. Thức xấu và thức tốt đó ra sao?
- Thức bất thiện là thức xấu. Thức thiện và thức vô ký là thức tốt. - Thức thiện và thức bất thiện là thức xấu. Thức vô ký là thức tốt. - Thức tương ưng với khổ thọ là thức xấu. Thức tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là thức tốt. - Thức tương ưng với lạc thọ và khổ thọ là thức xấu. Thức tương ưng phi khổ phi lạc thọ là thức tốt. - Thức của người không nhập thiền là thức xấu. Thức của bực nhập thiền là thức tốt.
- Thức mà thành cảnh của lậu là thức xấu. Thức không thành cảnh của lậu là thức tốt. Hoặc nên biết thức tốt và thức xấu là do nương theo so sánh mỗi thức mỗi bực. Thức viễn đó ra sao? - Thức bất thiện là thức xa với thức thiện và thức vô ký. - Thức thiện và thức vô ký là thức xa với thức bất thiện.
- Thức thiện là thức xa với thức bất thiện và thức vô ký. - Thức bất thiện và thức vô ký là thức xa với thức thiện. - Thức vô ký là thức xa với thức thiện và thức bất thiện. - Thức thiện và thức bất thiện là thức xa với thức vô ký. - Thức tương ưng khổ thọ là thức xa với thức tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Thức tương ưng lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ là thức xa với thức tương ưng khổ thọ. - Thức tương ưng lạc thọ là thức xa với thức tương ưng với khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ. - Thức tương ưng khổ thọ và phi khổ phi lạc thọ là thức xa với thức tương ưng lạc thọ. - Thức tương ưng phi khổ phi lạc thọ là thức xa với thức tương ưng lạc thọ và khổ thọ.
- Thức tương ưng lạc thọ và khổ thọ là thức xa với thức tương ưng phi khổ phi lạc thọ. - Thức của người không nhập thiền là thức xa với thức của bực nhập thiền. - Thức của bực nhập thiền là thức xa với thức của người không nhập thiền. - Thức mà thành cảnh của lậu là thức xa với thức không thành cảnh của lậu. - Thức không thành cảnh của lậu là thức xa với thức thành cảnh của lậu.
Đây gọi là thức viễn. Thức cận đó ra sao? - Thức bất thiện là thức gần với thức bất thiện.
- Thức thiện là thức gần với thức thiện. - Thức vô ký là thức gần với thức vô ký.
- Thức tương ưng khổ thọ là thức gần với thức tương ưng khổ thọ. - Thức tương ưng lạc thọ là thức gần với thức tương ưng lạc thọ. - Thức tương ưng phi khổ phi lạc thọ là thức gần với thức tương ưng phi khổ phi lạc thọ. - Thức của người không nhập thiền là thức gần với thức của người không nhập thiền.
- Thức của bực nhập thiền là thức gần với thức của bực nhập thiền. - Thức mà thành cảnh của lậu là thức gần với thức thành cảnh của lậu. - Thức mà không thành cảnh của lậu là thức gần với thức không thành cảnh của lậu. Đây gọi là thức cận. Hoặc nên biết thức viễn, thức cận nương theo so sánh riêng mỗi thức thành ra mỗi bực. Dứt phần phân theo Kinh